1. Thời kỳ La Mã, thương mại phát triển và lan rộng khắp đế quốc

Vào thời điểm La Mã thay thế Hy Lạp trong vị trí trung tâm tư tưởng phương Tây, những quan tâm chính về thương mại phát triển và lan rộng khắp đế quốc. Nên khi Cộng hòa La Mã kết thúc, có đủ những vấn đề kinh tế cho một quân đoàn gồm các nhà kinh tế học và cố vấn chính phủ làm việc - những vấn đề thương mại, tài chính, chiến tranh, thực dân hóa và nô lệ, ở đây chỉ nêu một số. Vì thế, thật ngạc nhiên, ít có công trình phân tích chính xác về kinh tế trong thời kỳ này.

Có lẽ điều khó hiểu là cấu trúc xã hội của La Mã cổ đại không hợp với những quan tâm tri thức thuần túy. Từ dưới lên, cấu trúc bao gồm nô lệ, nông nô, thợ thủ công và doanh nhân, trên là tầng lớp quý tộc quân sự và dân sự. Mặc dù tầng lớp quý tộc đã được dưỡng dục đáng kể sự quan tâm về triết học, nghệ thuật Hy Lạp, nhưng đó là trò tiêu khiển hơn là nghề nghiệp với kết quả có thể dự đoán rằng ít xảy ra sự tiến bộ phân tích nào quan trọng trong kinh tế.

2. Thành tựu dưới thời kỳ La Mã

Thành tựu quan trọng trong xã hội La Mã là luật pháp. Theo quan điểm xã hội, thì đây là vinh quang của một trong những đế quốc vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới. Luật La Mã chia thành dân luật chỉ áp dụng cho những mối quan hệ giữa các công dân (jus civile) và một loại thông luật - mặc dù không giống với nghĩa trong tiếng Anh - điều tiết cho các hoạt động thương mại và các mối quan hệ khác giữa những người không phải là công dân hay giữa công dân với những người không phải là công dân (jus gentium). Định chế luật sau cùng này trở thành kho chứa các nguyên tắc kinh tế sau này tạo ra xuất phát điểm cho phân tích kinh tế, nhất là vào thời Trung cổ. Ví như luật La Mã về tài sản và hợp đồng về sau đã trở thành điểm dựa chính của hệ thống pháp lý trong thế giới phương Tây. Khái niệm về quy luật tự nhiên có thể đã có từ thời Aristotle, cũng được tìm thấy trong luật La Mã, ở đây luật được xem là một tiêu chuẩn xác định giá trị pháp lý của luật con người. Sau cùng, học thuyết hiện đại về công ty cũng bắt nguồn từ luật La Mã . Nói chung, luật La Mã tạo ra cái khung sườn mà kinh tế học sau này dựa vào dù chậm nhưng chắc. Ví như điểm trọng tâm của thảo luận tiếp theo sau về giá cả thị trường trong Bộ luật Justine:

“Giá cả mọi vật có chức năng hoạt động không phải theo ý thích bất chợt hay vì lợi ích thiết thực của cá nhân mà theo sự đánh giá thông thường. Một người có đứa con trai mà ông phải nộp số tiền chuộc rất lớn thì không hề giàu hơn với số tiền ấy. Ông ta cũng không sở hữu đứa con trai của người khác, người có số tiền mà ông có thể bán đứa con trai cho người bố của nó, số tiền ấy cũng không được nghĩ đến khi ông bán con. Trong trường hợp hiện tại, đứa con trai được đánh giá như một người đàn ông chứ không phải là con trai của một người nào đó... Thế nhưng, thời gian và địa điểm mang lại những thay đổi về giá cả. Dầu [oliu] sẽ được định giá ở La Mã không giống như ở Tây Ban Nha, vì ở đấy giá cả không được cấu thành bằng những ảnh hưởng nhất thời, cũng không phải bằng sự khan hiếm thất thường, dầu được định giá trong thời điểm khô hạn kéo dài bằng với thời điểm mùa màng bội thu” (Corpus luris Civilis, trích dẫn Dempsey, trang 473).

Cũng nên lưu ý từ thời điểm La Mã sụp đổ cho đến cuối thế kỷ 18, hầu hết các tác giả kinh tế học đều là người chuyên nghiệp hoặc là doanh nhân hay luật sư. Nếu là luật sư, có thể họ là tu sĩ được học qua luật dòng, còn luật gia học qua dân luật.

3. Tư tưởng kinh tế theo các tín đồ Cơ Đốc

Khi sự phát triển giáo lý đạo Cơ Đốc bao trùm lên trên sự suy tàn của đế quốc La Mã, tạo ra một loại ảnh hưởng khác đến nền văn minh khác biệt. Nỗ lực của La Mã trong việc văn minh hóa những nơi họ thôn tính bắt đầu rất khả quan và kết thúc bằng việc xác lập luật pháp và trật tự. Thông điệp duy nhất họ đưa ra đến những vùng bên ngoài ranh giới tư pháp là sự đầu hàng quân sự. Có lẽ vì lý do ấy mà trật tự chính trị và xã hội vốn không bền vững. Đạo Cơ Đốc đưa ra một thông điệp khác, một thông điệp chứng tỏ là một nguồn cảm hứng và điểm tập hợp của hàng triệu người, nhưng là một thông điệp đặc biệt không hiệu quả đối với sự thúc đẩy phân tích kinh tế mãi cho đến giai đoạn phát triển sau này.

Tín đồ đạo Cơ Đốc ban đầu nghĩ rằng được ở trong Nước Chúa là gần trong tầm tay vì thế nhấn mạnh đến các kho báu “trần thế khác”. Sản xuất và phúc lợi vật chất là dư thừa trong Nước Chúa. Thật ra, những kho báu trần thế được xem là một trở ngại trong việc đi đến Nước Chúa này. Khi thời gian trôi qua, việc đến Nước này có vẻ càng xa xôi hơn, của cải được xem là một món quà do Chúa ban tặng, trang bị cho, để thúc đẩy phúc lợi của con người. Vì thế tín đồ đạo Cơ Đốc nghĩ đến việc tập trung vào việc sử dụng “thích đáng” quà tặng vật chất, một suy nghĩ tồn tại dai dẳng trong tư duy kinh tế Trung cổ. Vì thế Thánh Basil (k. 330-379) đã viết:

“Người tốt... không say sưa với của cải khi đang có, cũng không tìm kiếm của cải khi không có, anh ta xử lý những gì được trao cho mình không phải là sự thích thú ích kỷ mà là một sự quản lý khôn ngoan”. (Works of St. Basil, trích dẫn Gray, trang 52).

Loại vấn đề này là biện pháp trong chiều hướng phân tích hơn là lời cảnh cáo. Cũng nói thế với các công trình ban đầu, kể cả công trình của các thánh John Chrysostom (k. 347-407), Jerome (k. 347-419), Ambrose (k. 339-397), và ở mức độ nhỏ hơn, thánh Augustine (354-430). Augustine đi xa hơn những người khác bằng cách chỉ rõ cách tiếp cận thuyết giá trị khách quan, xác định nhu cầu cá nhân. Trong In The City of God, ông viết:

“Có một... giá trị khác áp đặt lên mỗi vật tỉ lệ với việc sử dụng chúng... rất thường thấy là một con ngựa được trìu mến hơn một nô lệ, hay đồ châu báu quý giá hơn người hầu gái. Vì mỗi người có quyền hình thành suy nghĩ của riêng mình nếu anh ta muốn, rất ít có sự đồng tình giữa sự chọn lựa của một người mà nhu cầu thực sự cho một mục tiêu là cần thiết và sự chọn lựa của một người ao ước một vật chỉ đơn thuần vì sự thích thú”. (Trích dẫn Dempsey, trang 475).

Tuy nhiên, nhìn chung, các tác giả Cơ Đốc ban đầu giải quyết vấn đề kinh tế với sự dửng dưng nếu không nói là không thân thiện. Chủ yếu họ quan tâm đến luân lý trong hành vi cá nhân. Cơ cấu kinh tế thế nào và ra sao dường như không phải là mối bận tâm của giới lãnh đạo và các tác giả trong giáo hội.

4. Luật La Mã thời kỳ cổ đại

Luật La Mã là hệ thống pháp luật của La Mã cổ đại, phát triển qua ngàn năm luật học, từ Thập nhị Bảng (khoảng năm 449 TCN), đến bộ luật Pháp điển Dân sự (529 CN) do Hoàng đế Đông La Mã Justinianus I ban hành. Luật La Mã tạo nên khuôn khổ cơ bản cho luật dân sự, hệ thống luật được sử dụng phổ biến nhất hiện nay.

Trong khi rất nhiều thành tựu của thời kỳ Cổ đại có nguồn gốc từ người Hy Lạp và chỉ được người La Mã tiếp nhận thì Luật La Mã là một sáng tạo nguyên thủy của người La Mã không có gương mẫu Hy Lạp. Thế nhưng việc sử dụng các khái niệm và mẫu mực lý luận từ triết học Hy Lạp trong phát triển của ngành luật học La Mã đã đóng một vai trò quan trọng.

Đầu tiên, Luật La Mã là luật được hình thành từ việc hành luật lâu năm theo tập quán không có luật viết. Một trong những tác phẩm luật ra đời sớm nhất là Bộ luật 12 bảng (tiếng La Tinh: lex duodecim tabularum), thành hình vào khoảng năm 450 trước Công Nguyên.

Ngành luật học La Mã đạt đến đỉnh cao nhất trong những thế kỷ đầu tiên của thời kỳ hoàng đế (thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 3). Trong thời gian cuối của thời Cổ đại các học thuyết của ngành luật học cổ điển này có nguy cơ bị lãng quên. Để chống lại xu hướng đó Hoàng đế Justinian I đã ra lệnh sưu tập lại các bản văn luật cũ. Tác phẩm luật mà sau này được biết đến dưới tên Corpus Iuris Civilis bao gồm các quyển sách dạy về luật (công bố năm 533), tập san các bài văn của các luật gia La Mã (tiếng La Tinh: digesta hay pandectae), các đạo luật do hoàng đế ban hành (Codex Iustinianus, công bố năm 534) và các đạo luật đã được sửa đổi bổ sung (novellae).

5. Luật La Mã thời Trung cổ và Hiện đại

Trong Đế quốc Byzantine bộ luật của Justinian vẫn là cơ sở cho việc thực thi luật pháp. Trong thế kỷ thứ 9 Hoàng đế Leo VI (886–912) cho ra đời bộ luật Byzantine mà về cơ bản là từ bản dịch ra tiếng Hy Lạp của Codex Iustinianus và các digesta.

Thế nhưng Luật La Mã đã đi vào lãng quên trong Tây Âu trong thời gian đầu của thời Trung cổ. Đặc biệt là người ta không còn biết đến các digesta nữa. Vào khoảng năm 1050 các bản văn này được tái khám phá. Bắt đầu từ thời điểm này các luật gia người Ý là những người đầu tiên tiếp tục dựa vào Luật La Mã mà trường luật của họ tại Bologna đã phát triển thành một trong những trường đại học đầu tiên của châu Âu. Những người bình chú dân luật (glossator) diễn giải và hiệu chỉnh lại các bài văn theo nhu cầu và phương pháp đương thời. Sau đấy những người bình luận (commentator) biên soạn các bài văn về luật thành thành những tác phẩm mang tính thực tiễn.

Khi chính thể chuyên chế và thời kỳ Khai sáng bắt đầu, luật tự nhiên lại chiếm vị trí nổi bật. Vào đầu thế kỷ 19, cùng với Trường phái Luật lịch sử mà người đại diện nổi bật là Friedrich Karl von Savigny, người ta lại bắt đầu quay lại với Luật La Mã. Ngay các bộ luật dân sự hiện đại - như Bộ luật Dân sự Đức và Bộ luật Dân sự Áo trong văn bản đầu tiên – cũng thành hình trước tiên là từ Luật La Mã.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)