1. Aristotle và sự chuyển đổi hai bên
Aristotle (k.384-322 tr. CN) quan tâm đến tiềm năng phân tích của việc so sánh các đánh giá thuyết Hiệu dụng. Trong các tác phẩm Topics và Rhetoric của ông, ông trình bày một nghiên cứu có hệ thống về các yếu tố chọn lựa thích hợp với việc ra quyết định của nhà nước. Quan trọng nhất đối với lý thuyết kinh tế hiện đại, Aristotle thảo luận giá trị theo nghĩa so sánh tăng dần. Tuy nhiên, sự so sánh các giá trị theo hệ thống của ông dựa trên thuyết Hiệu dụng biên tế chủ quan phát triển theo cách hoàn toàn không liên quan đến thuyết giá cả. Rất có khả năng sự phân tích chuyển đổi của Aristotle là một nỗ lực nhằm xác định tiêu chuẩn công bằng mà qua đó hình thành hệ thống pháp lý Athens. Trong bất kỳ sự kiện nào thì những cân nhắc tính công bằng chi phối những cân nhắc kinh tế trong phân tích chuyển đổi của Aristotle.
Điều quan trọng nên lưu ý là Aristotle trình bày cách phân tích sự trao đổi cô lập trái ngược với sự trao đổi thị trường. Sự khác biệt vật phụ thuộc chủ yếu để hiểu cả tiến trình lẫn kết luận của mô hình Aristotle. Các nhà kinh tế xác định sự trao đổi cô lập như là hai bên trao đổi hàng hóa chung với sự ưa thích chủ quan của chính mình mà không tham khảo bất kỳ cơ hội thị trường thay thế khác. Mặt khác, sự trao đổi thị trường, diễn ra khi các doanh nhân riêng lẻ đi đến những quyết định theo khả năng phán đoán việc kinh doanh liên tục, rộng khắp trong số nhiều người tham gia trong một thị trường thông thạo, có tổ chức. Trong sự trao đổi thị trường, giá cả được niêm yết công khai là kết quả cuối cùng của việc thực hiện công bằng quyền lợi của người bán và người mua. Trái lại, trong sự trao đổi cô lập thì không có hoạt động giá cả thị trường. Không có sự tác động lẫn nhau của nhiều người tham gia thị trường, tính công bằng của mỗi giao dịch chỉ có thể xác định bởi một bên thứ ba không vụ lợi, chẳng hạn như quan tòa hay trọng tài. Vả lại, phán quyết phải được đưa ra trên cơ sở từng trường hợp. Sự trao đổi cô lập là chuyện cũ rích trong kinh nghiệm của Aristotle, song ngày nay vẫn còn khá phổ biến trong các nền kinh tế tiền công nghiệp với hàng hóa không đồng dạng.
2. Tính chất chính thể
Mặc dù là môn đệ sáng giá của Plato, Aristotle không thừa nhận quan niệm của thầy mình về nhà nước lý tưởng. Đúng ra, ông ủng hộ một nền kinh tế hỗn hợp cho phép vai trò lớn hơn vì động cơ kinh tế. Không như Plato, Aristotle biện hộ về tài sản cá nhân dành cho mọi giai cấp, trên nền tảng tạo ra tính hiệu quả kinh tế, mang lại sự bình an trong xã hội, và khuyến khích sự phát triển đặc tính luân lý.
Chính thể Athens trong thời đại của Aristotle thực hiện chức năng trên quy mô lớn như một nền kinh tế phân phối. Nói cách khác, sự giàu có và đặc quyền được phân phối theo tập quán, truyền thông và sự chỉ đạo của chính quyền. Phần lớn được phân phối: vinh dự thuộc mọi loại, bữa ăn công cộng miễn phí, giải trí công cộng, khẩu phần lúa, lợi nhuận từ các mỏ bạc ở Laurium, và trả lương cho nhiều công dân có nhiệm vụ hội thẩm và tham dự các cuộc họp của nhà nước. Theo từ chuyên môn trong thuyết xã hội hiện đại, những “quyền được làm” này là đặc quyền của mỗi công dân Hy Lạp. Aristotle xem những quyền được làm này là sự bảo vệ chống lại chế độ dân chủ tự do. Vì thế, vấn đề trung tâm mà ông quan tâm là vấn đề công lý phân phối.
3. Tính chất mua bán
Dựa vào nền tảng này mà đánh giá phân tích của Aristotle về sự trao đổi hai bên. Aristotle xem sự trao đổi như một tiến trình song phương mà trong đó cả hai bên đều được cải thiện nhờ kết quả trao đổi. Sự trao đổi diễn ra khi cả hai bên đều đi đến một tiềm năng mua bán tức là mỗi bên đều có số thặng dư mà họ muốn từ bỏ để đổi lấy hàng hóa của người khác. Vì thế, sự trao đổi được xây dựng trên khái niệm tính tương hỗ. Từ quan điểm này, việc phân tích tiến hành trên nền tảng pháp lý chứ không phải thương mại. Theo minh họa cơ bản của Aristotle về mua bán đổi chác như sau:
“Lúc này, sự trao đổi theo tỉ lệ được bảo đảm bằng sự kết hợp chéo.'Giả sử A là thợ xây, B là thợ giày, C là ngôi nhà còn D là đôi giày. Lúc ấy người thợ xây phải mua sản phẩm từ thợ đóng giày, và phải đổi lại bằng chính sản phẩm của mình. Nếu lúc ấy lần đầu tiên hàng hóa có sự bình đẳng theo tỉ lệ, thì hành động hỗ tương diễn ra, kết quả chúng ta đề cập sẽ có tác dụng. Nếu không, cuộc trao đổi không bình đẳng và không được duy trì, vì không có điều gì ngăn cản được sản phẩm của người này tốt hơn sản phẩm của người kia, vì thế sản phẩm ấy phải đánh đồng với nhau... Đây là lý do giải thích tại sao tất cả sản phẩm được trao đổi phải có phần nào đó so sánh được. Chính vì mục đích này mà người ta mới phát hành tiền giấy, mang ý nghĩa như vật trung gian, vì tiền đánh giá mọi vật, vì thế, số dư và số thiếu - có bao nhiêu đôi giày mới bằng ngôi nhà hay bằng một số lượng lương thực nhất định. Số đôi giày đổi lấy ngôi nhà vì thế phải tương ứng với tỉ lệ giữa thợ xây dựng với thợ đóng giày. Vì nếu không phải như thế, sẽ không có sự trao đổi và giao dịch. Và tỉ lệ này, vì thế được đánh giá bằng một vật khác, như chúng ta đã đề cập từ trước. Lúc này, đơn vị này là nhu cầu thực sự, liên kết mọi vật với nhau..., nhưng tiền bạc trở thành một quy ước xã hội, một loại tượng trưng cho nhu cầu và điều này giải thích lý do tại sao nó có tên “tiền tệ” - vì tiền tệ tồn tại không chỉ bằng bản chất mà còn bằng luật pháp và đây chính là khả năng của chúng ta phải thay đổi nó và làm nó vô dụng. Lúc ấy sẽ có tính tương hỗ khi thuật ngữ được đánh đồng đến mức nông dân với thợ giày, số lượng công việc của thợ đóng giày phải đổi lấy công việc của nông dân”. (Nichomachean Ethics, 1133“ 5-30).
Đoạn văn này cộng với những soạn thảo cóng phu khác của Aristotle trở thành chủ đề của sự nghiên cứu tỉ mỉ và lặp đi lặp lại của các tác giả triết học Kinh viện thời Trung cổ, thời kỳ mà nhận thức của tư tưởng phương Tây về cung cầu tiến bộ rất chậm. Vì ý nghĩa mù mờ và vì tâm điểm phi thị trường, nên phân tích về trao đổi hai bên của Aristotle không kích thích chúng ta tiến quá gần đến sự phân tích giá cả thị trường. Aristotle ám chỉ không rõ ràng loại tỉ lệ nào trong đoạn văn trên, cũng như tính hỗ tương nào (hay thậm chí sự bình đẳng nào) đề cập trong bối cảnh này.
4. Mô hình trao đổi của Aristotle đã tạo ra các tiền đề quan trọng trong thương mại
Những tác giả sau này cố đưa ra dạng cấp số nhân cho sự phân tích của Aristotle. Vì thế, trong thế kỷ 14, Nicole Oresme đưa ra biểu đồ trong phê bình công trình của Aristotle. Thật không may, “mô hình” cấp số nhân này không làm sáng tỏ các vấn đề kinh tế cơ bản. Bất kể sự tương đồng cụ thể với những đường cong cung cầu hiện đại, những đường chéo góc biểu đồ không có quan hệ hàm theo nghĩa toán học. Ngoài ra, không có sự nhận biết về giá, mặc dù có đề xuất về loại cân bàn đánh đồng thuyết Hiệu dụng chủ quan. Vả lại, con số không tiết lộ gì về sự phân phối lợi ích giữa hai doanh nhân, cũng như về sự công bằng trong trao đổi trong những giới hạn của sự chọn lựa tự nguyện.
Sự nhầm lẫn liên tục về mô hình trao đổi của các môn đồ Aristotle không được phép che khuất thực tế, mô hình này trở thành một cơ sở quan trọng để thảo luận kéo dài về giá trị xuất hiện sau đó vào thời Trung Cổ. Nếu không có gì khác, mô hình trao đổi của Aristotle đã tạo ra các tiền đề quan trọng trong thương mại, và những tiền đề này trở thành một phần và trọn gói của phép phân tích kinh tế. Ví dụ, Aristotle xác lập những định đề sau:
- Mua bán phát sinh chỉ khi nào số thặng dư tồn tại.
- Phải có những đánh giá chủ quan giữa những người mua bán về giá trị của mỗi thặng dư.
- Những người mua bán phải xác lập quan hệ thừa nhận hai bên có khả năng cùng có lợi qua trao đổi.
- Nếu có tranh chấp phát sinh trong sự trao đổi cô lập liên quan đến sự phân phối lợi nhuận cụ thể, thì phần chia thích đáng sẽ do chính quyền quyết định, tính theo các nguyên tắc công bằng thông thường và phúc lợi của nhà nước.
Aristotle cũng tạo một dấu ấn về thuyết giá trị trong một số phương diện. Ví dụ, ông tiếp cận đề tài theo nghĩa so sánh tăng dần. Vì thế, ông nhận xét rằng “một vật giả sử đáng được mong muốn nhiều hơn khi bổ sung một cái lợi nhỏ hơn làm cho cái toàn thể trở thành cái lợi nhiều hơn. Cũng như thế, bạn sẽ đánh giá bằng phép trừ: đối với những vật sau khi trừ, số dư còn lại là một lợi ích nhỏ hơn có thể chọn làm cái lợi nhiều hơn, cho dù phép trừ có làm cho số dư là một cái lợi nhỏ hơn chăng nữa” (Topics, 118b 15). Ông cũng tính đến sự khan hiếm và giá trị sử dụng, ám chỉ nghịch biến nước-kim cương nổi tiếng do Adam Smith dựng lên. Aristotle nhận xét:
“Những gì hiếm thì có giá trị hơn nhiều những gì thừa thãi. Vì thế vàng tốt hơn sắt mặc dù ít sử dụng hơn: vàng khó kiếm hơn, vì thế đáng giá hơn” (Topics, 1364“ 20-25).
Ông bổ sung “những gì thường sử dụng trội hơn những gì hiếm khi sử dụng”, Aristotle trích dẫn Pindar về kết quả “cái tốt nhất trong vạn vật là nước”. Sự xếp theo thứ tự nhu cầu con người của ông trong Politics cũng báo điềm cho thuyết của nhà kinh tế học nổi tiếng người Áo, Carl Menger.
5. Aristotle bàn về tiền tệ và tiền lãi
Thuyết của Aristotle về tiền tệ hợp lý hóa cả về nguồn gốc tiền tệ lẫn chức năng hoạt động của nó. Đoạn văn trích dẫn từ Ethics chứng tỏ ông nhận thức về tiền tệ như một tiêu chuẩn giá trị và phương tiện trao đổi. Aristotle cũng thừa nhận tiền tệ là một kho giá trị bằng cách quan sát:
“Nếu lúc này chúng ta không cần một vật thì chúng ta sẽ cần đến nó nếu bao giờ chúng ta cũng thực sự cần đến nó - tiền tệ như thể là vật bảo đảm của chúng ta, vì nó có thể giúp chúng ta có được những thứ mình cần bằng cách mang theo tiền”. (Nichomachean Ethics, 1133b 10).
Thậm chí một số học giả tranh luận rằng quan điểm hiện đại xem tiền tệ như một tiêu chuẩn trong hợp đồng về đình hoãn thanh toán là ẩn ý trong phân tích của Aristotle về sự cho vay nặng lãi.
Quan tâm của Aristotle về tính pháp lý và quản lý của nền kinh tế dẫn ông đến việc thảo luận tiền tệ như một đối tượng của hành vi hám lợi, và nhất là nghiên cứu tiền lãi như phần trao đổi “không tự nhiên”. Tư tưởng kinh tế hiện đại xem hành vi hám lợi như một biểu hiện lành mạnh của tính tư lợi, được chứng minh có những tác dụng hữu ích qua sự cạnh tranh đặt ra những kiềm chế nó. Thế nhưng, đối với suy nghĩ của người Hy Lạp cổ đại không hiểu tính chất tự điều tiết của thương trường, thì hành vi hám lợi không kiềm chế tiêu biểu cho môi đe dọa sự ổn định kinh tế, xã hội. Aristotle nghĩ rằng tiền đúc cho phép phát triển sự trao đổi “không cần thiết”, phải bị ngã lòng trong tình trạng “tốt”. Trong bối cảnh Hy Lạp cổ đại, sự trao đổi không cần thiết là sự trao đổi không có giới hạn tự nhiên. Không như sự trao đổi cần thiết của gia đình, vốn được kiềm chế bằng những nhu cầu hạn chế của gia đình và bằng cách giảm bớt hiệu dụng biên tế, sự trao đổi không cần thiết (như buôn bán lẻ) xảy ra hoàn toàn vì mục đích tích lũy tài sản vì lợi ích của riêng mình. Nói cách khác, mặc dù Aristotle thừa nhận việc sử dụng sự trao đổi để làm thỏa mãn nhu cầu cá nhân (tự nhiên) và tập thể. Vì sự tích lũy như thế không có giới hạn tự nhiên, nên sự theo đuổi tàn nhẫn dẫn đến nguy cơ làm bần cùng hóa nhiều người chỉ để một vài người hưởng lợi.
Chính loại tư duy ấy làm cơ sở cho Aristotle kết án tiền lãi là “không tự nhiên”. Đối với Aristotle, việc sử dụng tiền tệ tự nhiên là phải tiêu xài. Tích trữ, hay tích lũy vì lợi ích của riêng mình là không tự nhiên, vì thế, bị lên án. Đến mức không có sự cho vay nào mà không có tích lũy, vì thế sự cho vay cũng đáng hoài nghi. Aristotle lên án tiền lãi, cái mà ông thường đánh đồng với cho vay nặng lãi, trên cơ sở cho rằng không có lý do nào giải thích tại sao một vật trung gian dùng làm phương tiện trao đổi đơn thuần lại tăng trưởng khi truyền từ tay người này sang người khác - không “tự nhiên” khi bản thân tiền được tái tạo theo cách này. Thật không may, ông không bao giờ quan tâm đến vấn đề tại sao trước hết phải trả tiền lãi. Nói cách khác, Aristotle không phát triển thuyết tiền lãi, cho dù ông chủ trương thuyết tiền tệ nguyên thủy qua đó ông liên kết với tiền lãi.
Điểm lại trong hàng thiên niên kỷ, điều chắc chắn là những gì mà người Hy Lạp đóng góp cho tư tưởng phương Tây là một tiếp cận hợp lý đối với khoa học xã hội. Tư tưởng của họ hình thành một chuỗi liên tục trải rộng từ giá trị kinh tế vi mô trong đơn vị sản xuất/tiêu dùng cơ bản của hộ gia đình cho đến giá trị kinh tế vĩ mô trong hạnh phúc và tính tự cung tự cấp của toàn thể công dân tập thể. Những gì họ không nhận thức được là cơ chế tự điều tiết của thương trường. Vì thế khung phân tích của họ tập trung vào con người và quản lý.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)