1. Các vấn đề pháp lý phát sinh sau khi sáp nhập công ty ?

Kính chào Luật sư! Em đã được biết Luật sư qua Internet, em xin mạnh dạn được trình bày với Luật sư, rất mong nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của anh!

Em có một vấn đề đang vướng mắc như sau ạ: Công ty em ký nhiều hợp đồng cung cấp dịch vụ cho Công ty A và cho Công ty B. Hiện nay, Công ty B gửi cho em công văn thông báo có nội dung vắn tắt như sau:" Trên cơ sở giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do sở kế hoạch và đầu tư Hà nội cấp, Công ty A đã chính thức sáp nhập vào Công ty B với thông tin của pháp nhân nhận sáp nhập Công ty B. Với tư cách là bên nhập sáp nhập, Công ty B sẽ kế thừa mọi nghĩa vụ, quyền lợi đối với Công ty em theo quy định của hợp đồng và pháp luật". Như vậy, công ty A không còn tồn tại, em phải xuất tất cả hóa đơn về cho công ty B nhưng em thực sự cảm thấy không yên tâm. Vì vậy, em muốn hỏi luật sư, trong trường hợp này, hồ sơ của em phải bao gồm những gì để có thể làm rõ ràng, chặt chẽ về mặt pháp luật việc Công ty B chịu mọi trách nhiệm (thanh toán ...) đối với những hợp đồng mà bên em đã ký với Công ty A ?

Xin được gửi tới những lời chúc tốt đẹp tới Luật sư, gia đình và cộng sự. Xin trân trọng cảm ơn Luật sư! Mong chờ hồi âm!

Người gửi: Trần Thị Ngọc Khánh

>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài điện thoại: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi, với câu hỏi của bạn tôi xin được trả lời như sau:

Theo qui định tại điều 201 Luật doanh nghiệp năm 2020

Điều 201. Sáp nhập công ty

Từ qui định trên có thể thấy rằng công ty A sáp nhập vào công ty B thì công ty B là công ty phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với những hợp đồng dịch vụ giữa công ty bạn và công ty A. Vì vậy trong trường hợp này bạn cần phải chuyển hợp đồng đã ký với công ty A và hóa đơn về cho công ty B để yêu cầu công ty B thanh toán cho công ty bạn. Tuy nhiên để bảo vệ quyền lợi cho công ty bạn, bạn chỉ nên nộp bản sao có chứng thực hợp đồng mà công ty bạn đã ký với công ty A cùng với hóa đơn cho công ty B. Cùng với đó khi giao nộp những giấy tờ đó bạn nên làm biên bản có xác nhận của công ty B về việc bạn đã nộp hợp đồng mà công ty bạn đã ký với công ty A và các hóa đơn, cho công ty B. Trong biên bản phải có những nội dung sau:

- Thời gian, địa điểm nộp hóa đơn;

- Người nhận hóa đơn mà bạn nộp;

- Tổng giá trị phải thanh toán trong hóa đơn;

- Yêu cầu phòng tài chính, kế toán của công ty đó xác nhận ở cuối văn bản là đã nhận hóa đơn bạn nộp.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tư vấn mua bán và sáp nhập công ty

>> Xem thêm:  Tư vấn về thủ tục và chi phí sáp nhập Công ty ? Cần làm gì để mua lại thành công một công ty ?

2. Tư vấn thủ tục sáp nhập doanh nghiệp ?

Xin chào luật Minh khuê. Hiện nay công ty tôi(Công ty TNHH MTV) đang có kế hoạch sáp nhập một công ty con được thành lập từ năm 2010( là công ty cổ phần) công ty mẹ chiếm 80% cổ phần.

Xin hỏi thủ tục cần để sáp nhập công ty con như trên được thực hiện như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người hỏi: Le Quang Chau

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 202, Luật Doanh Nghiệp năm 2020 về chuyển đổi công ty thì:

Điều 202. Chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ty cổ phần theo phương thức sau đây:a) Chuyển đổi thành công ty cổ phần mà không huy động thêm tổ chức, cá nhân khác cùng góp vốn, không bán phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân khác;b) Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách huy động thêm tổ chức, cá nhân khác góp vốn;c) Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách bán toàn bộ hoặc một phần phần vốn góp cho một hoặc một số tổ chức, cá nhân khác;d) Kết hợp phương thức quy định tại các điểm a, b và c khoản này và các phương thức khác.

3. Công ty phải đăng ký chuyển đổi công ty với Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc chuyển đổi. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ chuyển đổi, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và cập nhật tình trạng pháp lý của công ty trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

4. Công ty chuyển đổi đương nhiên kế thừa toàn bộ quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gồm cả nợ thuế, hợp đồng lao động và nghĩa vụ khác của công ty được chuyển đổi.

Như vậy, đầu tiên bạn có thể chuyển đổi loại hình doanh nghiệp của công ty con từ Công ty cổ phần sang Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Thủ tục chuyển đổi được quy định như sau:

Điều 25. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với các trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp
...
4. Trường hợp chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần và ngược lại, hồ sơ đăng ký chuyển đổi bao gồm:

a) Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp;

b) Điều lệ công ty chuyển đổi theo quy định tại Điều 25 Luật Doanh nghiệp;

c) Quyết định của chủ sở hữu công ty hoặc Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng thành viên hoặc của Đại hội đồng cổ đông về việc chuyển đổi công ty;

d) Danh sách thành viên hoặc danh sách cổ đông sáng lập, danh sách cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài và bản sao hợp lệ các giấy tờ theo quy định tại Khoản 4 Điều 22 và Khoản 4 Điều 23 Luật Doanh nghiệp;

đ) Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp hoặc các giấy tờ chứng minh hoàn tất việc chuyển nhượng hoặc thỏa thuận góp vốn đầu tư.

Khi này cả công ty mẹ và công ty con đều thuộc cùng một loại hình doanh nghiệp là Công ty Trách nhiệm hữu hạn

Như vậy theo quy định trên thì, công ty con có thể sáp nhập vào công ty mẹ bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty mẹ, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty con.

Qua những phân tích ở trên, hy vọng phần nào có thể giải đáp được cho thắc mắc của bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục mua bán, sáp nhập doanh nghiệp thực hiện thế nào ? Cách lập hồ sơ xin sáp nhập công ty ?

3. Quy định về sáp nhập doanh nghiệp ?

Kính gửi luật sư! Hiện tại chúng tôi đang có 2 công ty TNHH do hai người khác nhau đứng tên và hoạt động độc lập. Chúng tôi mong muốn cty TNHH thứ nhất hoạt động độc lập nhưng chịu sự quản lý tài chính và nhân sự của công ty TNHH thứ 2.
Để làm được như vậy chúng tôi cần phải làm gì? hình thức công ty sẽ như thế nào? Thủ tục và trình tự thực hiện ra sao?
Rất mong sự tư vấn của các luật sư. Chân thành cảm ơn!

Quy định về sáp nhập doanh nghiệp ?

Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như dữ liệu bạn cung cấp thì các bạn có 2 công ty TNHH do 2 người khác nhau đứng tên hoạt động độc lập và bạn muốn công ty TNHH thứ nhất hoạt động độc lập nhưng chịu sự quản lý của công ty TNHH thứ hai. Thực tế, điều bạn muốn rất khó thực hiện được bạn nhé! Trong quy định của Pháp luật có điều Điều 201 Luật doanh nghiệp năm 2020 đề cập đến vấn đề sát nhập doanh nghiệp, tuy nhiên sau khi sáp nhập thì chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập nên bạn muốn công ty thứ hai vẫn tồn tại được thì không áp dụng trong Điều khoản này được.

Điều 201. Sáp nhập công ty1. Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.

2. Thủ tục sáp nhập công ty được quy định như sau:a) Các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo Điều lệ công ty nhận sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải gồm các nội dung chủ yếu sau: tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty nhận sáp nhập; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty bị sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập; phương án sử dụng lao động; cách thức, thủ tục, thời hạn và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập thành phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty nhận sáp nhập; thời hạn thực hiện sáp nhập;b) Các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công ty liên quan thông qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công ty nhận sáp nhập và tiến hành đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập theo quy định của Luật này. Hợp đồng sáp nhập phải được gửi đến tất cả chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông qua;c) Sau khi công ty nhận sáp nhập đăng ký doanh nghiệp, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ, các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập. Các công ty nhận sáp nhập đương nhiên kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ, và lợi ích hợp pháp của các công ty bị sáp nhập theo hợp đồng sáp nhập.

3. Các công ty thực hiện việc sáp nhập phải bảo đảm tuân thủ quy định của Luật Cạnh tranh về sáp nhập công ty.

4. Cơ quan đăng ký kinh doanh tiến hành cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và thực hiện thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho công ty nhận sáp nhập. Trường hợp công ty bị sáp nhập có địa chỉ trụ sở chính ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi công ty nhận sáp nhập đặt trụ sở chính thì Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi công ty nhận sáp nhập đặt trụ sở chính thông báo việc đăng ký doanh nghiệp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi công ty bị sáp nhập đặt trụ sở chính để cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Tuy nhiên, trường hợp của bạn có thể quan tâm đến khái niệm công ty mẹ và công ty con theo quy định của Pháp luật bạn nhé!

Điều 195. Công ty mẹ, công ty con

1. Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:a) Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó;b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó.

2. Công ty con không được đầu tư mua cổ phần, góp vốn vào công ty mẹ. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được đồng thời cùng góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.

3. Các công ty con có cùng một công ty mẹ là doanh nghiệp có sở hữu ít nhất 65% vốn nhà nước không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác hoặc để thành lập doanh nghiệp mới theo quy định của Luật này.

4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Quy trình và thủ tục sáp nhập doanh nghiệp mới nhất ? Thủ tục sáp nhập công ty như thế nào ?

4. Phân tích mô hình mua bán, sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam ?

Mua bán (acquisition) và sáp nhập (merger) doanh nghiệp (M&A) là một phần tất yếu của bất cứ nền kinh tế lành mạnh nào và là một công cụ hiệu quả để tái cơ cấu doanh nghiệp. Quan trọng hơn, đó là cách thức chủ yếu để các doanh nghiệp mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh của mình và đem lại thu nhập cho chủ sở hữu và các nhà đầu tư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Nguyên tắc M &A là tạo ra giá trị cho cổ đông bao trùm và lớn hơn tổng giá trị hiện tại của hai doanh nghiệp khi hai doanh nghiệp tồn tại riêng rẽ.

1. Khái niệm về M &A theo quy định của pháp luật Việt Nam

Hoạt động M &A ở Việt Nam được quy định rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và hiện chưa có một khung pháp luật hoàn chỉnh và thống nhất điều chỉnh lĩnh vực này. Các giao dịch M &A, tùy từng trường hợp cụ thể, có thể liên quan và chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật về doanh nghiệp, về chứng khoán, về cạnh tranh, về đầu tư và luật hợp đồng.

Thuật ngữ “mua bán” và “sáp nhập” là hai khái niệm luôn đi kèm với nhau nhưng lại thường bị nhầm lẫn hoặc được sử dụng thay thế cho nhau, mặc dù hai thuật ngữ này có sự khác biệt cơ bản về bản chất. Hai hoạt động này khác nhau và hệ quả pháp lý của chúng cũng khác nhau.

Trong những năm gần đây, hoạt động M &A trở nên sôi động hơn tại Việt Nam. Tuy nhiên, các giao dịch này chủ yếu là các giao dịch mua lại. Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại hội thảo về vấn đề này diễn ra ngày 11/6 vừa qua tại Hà Nội, chỉ có 18 vụ M &A với tổng giá trị là 61 triệu đôla Mỹ, năm 2006 có 32 vụ với tổng giá trị các thương vụ là 245 triệu đôla Mỹ. Năm 2007, Việt Nam có hơn 90 vụ M &A với giá trị giao dịch là hơn 1, 7 tỷ đôla Mỹ và năm 2008, đã có gần 40 vụ sáp nhập và mua lại với tổng giá trị gần 30 triệu đôla Mỹ. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, trong 5 đến 10 năm tới, sẽ có từ 30% đến 50% doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ sáp nhập hoặc bị sáp nhập với các đối tác khác. Hoạt động M &A tiếp tục diễn ra sôi động do đây là một hình thức đầu tư ngày càng phổ biến và tiện lợi; do sự tăng trưởng nóng của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua; do nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao những cơ hội đầu tư tại Việt Nam cũng như do những cam kết của Chính phủ Việt Nam trong lộ trình thực hiện khi gia nhập WTO; và do những ảnh hưởng quốc tế với sự góp mặt của hàng loạt quỹ đầu tư trong và ngoài nước.

Mặc dù thuật ngữ “M &A” được sử dụng rất thông dụng ở Anh quốc cũng như ở Hoa Kỳ nhưng trên thực tế, lại không có một định nghĩa pháp lý nào về việc sáp nhập hai công ty thành một công ty. Do đó, các giao dịch thường được cơ cấu thành giao dịch mua cổ phần hoặc mua tài sản. Với các nước có hệ thống dân luật như Trung Quốc, khi nói đến một giao dịch “M &A” có nghĩa là đề cập đến một giao dịch khi một doanh nghiệp được thành lập ở Trung Quốc sẽ, bằng việc mua lợi ích trong phần vốn chủ sở hữu hiện tại, đặt mua thêm phần vốn phát hành bổ sung, mua tài sản hoặc nợ, giành lấy hoặc có được quyền kiểm soát thực tế của doanh nghiệp đã được thành lập và vẫn đang tiến hành hoạt động kinh doanh của mình.

Trên thực tế, nếu một doanh nghiệp mua lại hoàn toàn một doanh nghiệp khác và đóng vai trò là người chủ sở hữu mới thì giao dịch đó được gọi là mua lại (acquisition). Dưới góc độ pháp lý, công ty bị mua lại sẽ ngừng hoạt động, công ty mua lại sẽ tiếp quản toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty kia và cổ phiếu của công ty mua lại vẫn được giao dịch bình thường. Sáp nhập, theo nghĩa đơn giản nhất, là việc hai công ty thường là có cùng quy mô, thống nhất sẽ cùng tham gia hợp nhất với nhau và trở thành một doanh nghiệp. Cổ phiếu của hai công ty này sẽ không còn tồn tại mà công ty mới ra đời sẽ phát hành cổ phiếu mới thay thế.

Ở Việt Nam, M&A là việc mua bán một tài sản, ví dụ như mua bán một nhà máy, một bộ phận doanh nghiệp hoặc thậm chí là toàn bộ doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp không đưa ra một định nghĩa cụ thể về mua bán doanh nghiệp. Tuy vậy, khái niệm mua lại doanh nghiệp lại được cụ thể trong Luật Cạnh tranh năm 2004. Theo đó, mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp bị mua lại (1).

Trên thực tế, một giao dịch M &A điển hình là việc một công ty - bên mua - mua tài sản hoặc cổ phần /phần vốn góp của bên bán và thanh toán cho bên bán bằng tiền mặt, chứng khoán hoặc các tài sản có giá trị khác của mình. Trong một giao dịch mua bán cổ phiếu, cổ phiếu của bên bán không cần phải kết hợp với cổ phiếu hiện hành của bên mua mà thường được cơ cấu để một công ty con mới hoặc một bộ phận hoạt động riêng biệt của bên mua nắm giữ. Với một giao dịch mua bán tài sản, tài sản được bên bán chuyển cho bên mua và tài sản này sẽ trở thành tài sản được tạo lập thêm của bên mua với hy vọng và mong muốn rằng giá trị của tài sản vừa mua được sẽ vượt cao hơn giá mà bên mua đã thanh toán theo thời gian. Theo đó, giá trị của cổ đông tăng lên do lợi ích về chiến lược và tài chính của giao dịch.

Do chưa có một định nghĩa đầy đủ về mua bán doanh nghiệp trong các ngành luật cụ thể, các giao dịch mua bán có thể được cấu trúc dưới nhiều hình thức khác nhau bao gồm việc phát hành cổ phiếu mới, ưu tiên bán cổ phiếu phát hành mới cho các cổ đông chiến lược với mức giá ưu đãi, tăng vốn điều lệ, ký kết các thỏa thuận hợp tác chiến lược, trở thành hệ thống đại lý phân phối hay bao tiêu sản phẩm, dịch vụ và trong một chừng mực nào đó bao gồm cả sáp nhập. Về bản chất, mua bán công ty là việc giành lấy quyền kiểm soát trong việc quản lý nội bộ trong công ty, mục tiêu thông qua nhiều biện pháp khác nhau. Nếu mục đích mua bán công ty nhằm chiếm lĩnh phần lớn thị phần, loại bỏ đối thủ cạnh tranh, đưa ra những thông tin sai lệch về bên bán nhằm tận dụng điểm này trong thương lượng giá cả… thì việc mua bán cần được xem xét kỹ lưỡng hơn theo các quy định của luật cạnh tranh và luật chứng khoán.

Trong khi đó, sáp nhập doanh nghiệp nói chung là sự kết hợp của hai hoặc nhiều doanh nghiệp, trong đó tài sản và nghĩa vụ của doanh nghiệp bán bị doanh nghiệp mua tiếp quản toàn bộ. Mặc dù doanh nghiệp mua có thể là một tổ chức khác biệt về cơ bản sau khi sáp nhập, nhưng doanh nghiệp này vẫn giữ đặc điểm ban đầu của nó. Một giao dịch sáp nhập điển hình là việc hai công ty tham gia cùng nhau (thường là thông qua việc trao đổi cổ phiếu hay phần vốn góp) để trở thành một công ty.

“sáp nhập doanh nghiệp” là một hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty sáp nhập (2). Theo Luật Cạnh tranh năm 2004, “sáp nhập doanh nghiệp”cũng được giải thích tương tự như được quy định tại Luật Doanh nghiệp, đó là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập (3). Ngoài khái niệm sáp nhập doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp định nghĩa hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc một số công ty cùng loại (công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất. Mặc dù việc sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp đã được quy định và phản ánh trong Luật Doanh nghiệp

nhưng có rất ít các thương vụ sáp nhập doanh nghiệp được thực hiện.

Sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp có thể diễn ra trên quy mô và hình thức khác nhau dựa vào cấu trúc của doanh nghiệp, mục đích và quan hệ của bên bán và bên mua. Mặc dù pháp luật Việt Nam chưa quy định các tiêu chí cụ thể để đánh giá và xếp loại hoạt động sáp nhập doanh nghiệp nhưng trên thực tế có các hình thức sáp nhập sau đây:

(a) Sáp nhập các doanh nghiệp cùng ngành (sáp nhập theo chiều ngang): sáp nhập giữa các công ty cạnh tranh trực tiếp, có cùng loại sản phẩm và thị trường. Mục đích của các giao dịch sáp nhập loại này là nhằm tăng cường hiệu quả và chiếm được thị phần rộng hơn;

(b) Sáp nhập theo chiều dọc: là việc sáp nhập giữa các công ty tham gia vào quá trình khác nhau của quá trình sản xuất và phân phối. Mục đích của các giao dịch sáp nhập loại này là để giảm thiểu được chi phí sản xuất, chi phí giao dịch và các chi phí khác thông qua việc quản lý các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và phân phối;

(c) Sáp nhập kết khối: là việc sáp nhập giữa các công ty không cùng lĩnh vực kinh doanh. Mục đích của các giao dịch sáp nhập này là nhằm đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, đa ngành nghề sau khi sáp nhập.

Những phân tích ở trên cho thấy, từ góc độ pháp lý, sáp nhập và mua lại là hai khái niệm khác nhau về bản chất và cần phải được hiểu độc lập và riêng rẽ. Tuy nhiên, trên thực tế, sự khác biệt về nghĩa của hai thuật ngữ này có thể không phải là vấn đề cốt lõi bởi vì kết quả cuối cùng của các giao dịch M &A thường là giống nhau: hai hoặc nhiều công ty có quyền sở hữu riêng biệt, sau M&A, sẽ có cùng mục tiêu hoạt động mà thông thường là để đạt được một số mục đích về chiến lược và tài chính. ảnh hưởng có tính chiến lược, tài chính, thuế và thậm chí là văn hóa của một giao dịch có thể rất khác nhau, phụ thuộc vào từng loại giao dịch.

Mặc dù pháp luật có những quy định về thủ tục M &A nhưng các quy định này vẫn chỉ rất sơ sài và chỉ nhằm để hướng dẫn các bên về việc thông báo và đăng ký với các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến giao dịch. Trên thực tế, việc mua bán hay sáp nhập công ty được thực hiện trên nguyên tắc tự do thỏa thuận phù hợp với các quy định của pháp luật và thủ tục tiến hành tùy từng trường hợp, có thể phức tạp hoặc đơn giản.

2. Các vấn đề cần quan tâm từ góc độ của bên mua và bên bán trong giao dịch M &A

Như đã trình bày ở trên, quy trình thực hiện một giao dịch M &A cụ thể phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố như bản chất của giao dịch, hoạt động kinh doanh của bên mua và bên bán và các yếu tố khác mà có thể cần phải được xem xét từ khía cạnh của luật cạnh tranh (như các vấn đề liên quan đến tập trung kinh tế) và luật chứng khoán (nghĩa vụ công bố thông tin). Tuy nhiên, một giao dịch M &A thành công là một giao dịch được xây dựng trên cơ sở các bên cùng có lợi. Vậy các bên trong giao dịch M &A thường quan tâm đến những vấn đề gì và thực hiện các bước như thế nào khi tham gia vào giao dịch M &A?

Trước tiên, cả hai bên đều phải xác định mục tiêu của mình khi tham gia giao dịch. Để xác định được mục tiêu này họ sẽ phân tích những lợi ích về kinh tế và tài chính mà họ sẽ đạt được thông qua M &A.

Khi đã xác định được mục tiêu của mình, thông thường các bên sẽ thành lập một nhóm bao gồm những người quản lý, kế toán, các nhà tư vấn tài chính, thuế, pháp lý và nếu là bên mua thì có thể là cả các ngân hàng đầu tư. Nhiệm vụ của nhóm này là tìm kiếm các công ty đối tác mục tiêu của mình. Quá trình này có thể dẫn đến việc: nhóm của bên mua sẽ đề xuất để tiến hành việc thẩm tra toàn diện doanh nghiệp bên bán. Mục đích của việc thẩm tra doanh nghiệp này là để bên mua có thể đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật, thực trạng hoạt động kinh doanh và quản trị doanh nghiệp của bên bán. Cụ thể là bên mua sẽ xem xét các vấn đề liên quan đến cơ cấu cổ đông, cách thức và các quy định của công ty về quyền lợi cơ bản của các cổ đông (đặc biệt là quyền lợi của cổ đông thiểu số), các vấn đề về tài chính (các khoản nợ, khoản vay, các nghĩa vụ và cam kết tài chính, các khoản phải thu, phải trả và bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp), chế độ và chuẩn mực kế toán, kiểm toán, việc quản lý và điều hành doanh nghiệp (quyền hạn và trách nhiệm của các thành viên hội đồng quản trị, ban điều hành, cơ chế họp hành và biểu quyết), các quy định về lao động, tiền lương, bảo hiểm, môi trường, danh sách các khách hàng truyền thống, các hợp đồng chủ yếu đã được bên bán ký và nghĩa vụ của bên bán theo các hợp đồng này, quyền sở hữu trí tuệ, tranh tụng, khiếu nại và các vấn đề khác. Việc bên mua quyết định có tiến hành M &A hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào kết quả thẩm tra một cách toàn diện các vấn đề nói trên liên quan đến bên bán.

Ngược lại với bên mua trong các giao dịch M &A, bên bán thường không tiến hành thẩm tra toàn diện đối với doanh nghiệp là bên mua. Những vấn đề mà bên bán quan tâm chỉ là liệu bên mua có tiềm lực về tài chính, có khả năng quản lý điều hành và có thực hiện đúng các quy định về thanh toán giá mua hay không. Thường thì bên bán có thể kiểm tra vấn đề này bằng việc yêu cầu bên mua phải cung cấp một số văn bản, giấy tờ chứng minh năng lực tài chính của mình mà không cần phải tiến hành một cuộc thẩm tra doanh nghiệp toàn diện như bên mua phải thực hiện. Hơn nữa, trong hầu hết các giao dịch M &A, việc thanh toán thường được cơ cấu bằng một thỏa thuận có liên quan đến tài khoản ký quỹ (escrow account) mà sẽ được thảo luận chi tiết dưới đây.

Sau quá trình thẩm tra doanh nghiệp, nếu bên mua cho rằng giao dịch M &A là khả thi, bên mua sẽ gửi các văn bản bày tỏ ý định mua doanh nghiệp với các điều khoản và điều kiện sơ bộ, tiến hành đàm phán sơ bộ và đánh giá mục tiêu lựa chọn. ở giai đoạn này, bên mua cũng có thể sẽ lựa chọn ngay cấu trúc của giao dịch. Việc xác định cấu trúc của giao dịch thông thường sẽ gắn liền với việc xác định nguồn tài chính để tài trợ cho thương vụ. Thông thường, các giao dịch M &A ở Việt Nam là do bên mua và bên bán tự thỏa thuận. Tuy nhiên, cũng có những giao dịch điển hình có nhiều bên mua quan tâm và do đó, việc mua bán có thể phải trải qua một thủ tục đấu thầu để lựa chọn. Nếu M &A phải thực hiện thông qua đấu thầu thì giao dịch sẽ có tính cạnh tranh bởi có thể có một số bên mua sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi do các tiêu chí được bên bán quy định.

Khi bên mua và bên bán đã thỏa thuận được với nhau một số nội dung cơ bản liên quan đến giao dịch, các bên sẽ thảo luận để thiết lập một quy trình mua bán với mục tiêu là kết thúc giao dịch nhanh và hiệu quả. Thực hiện quy trình này, các bên phải xử lý các vấn đề sau:

(a) Phải xin và nhận được các chấp thuận cần thiết trong nội bộ của công ty (dù là bên mua hay bên bán) và từ các bên thứ ba (bao gồm cả chấp thuận, giấy phép của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu có) liên quan đến giao dịch;

(b) Đưa ra ý kiến của mình về cấu trúc giao dịch, các văn bản tài liệu cần phải soạn thảo liên quan đến giao dịch và thống nhất được các vấn đề này;

(c) Chuẩn bị cho ngày hoàn thành giao dịch và thực hiện các quy định được các bên thỏa thuận để hoàn thành giao dịch;

(d) Tiến hành các công việc cần thiết sau ngày hoàn thành và thực hiện trách nhiệm của mỗi bên trong giai đoạn này; và

(e) Thực hiện việc hợp thành giữa hai pháp nhân.

Trong bất cứ một giao dịch M &A nào, giá cả luôn là vấn đề được các bên quan tâm và thảo luận ngay từ ban đầu. Tuy nhiên, cơ chế thanh toán có thể sẽ liên quan đến một số điều kiện cụ thể và bản chất của giao dịch. Việc các bên cùng ký vào một thỏa thuận hay hợp đồng liên quan đến M &A không có nghĩa là giao dịch M &A đó đã thành công và có thể kết thúc. Các giao dịch M &A chỉ được coi là đã hoàn thành khi quyền của bên mua được ghi nhận đầy đủ theo quy định của pháp luật và bên bán nhận được các giá trị đã được các bên thỏa thuận. Trong hầu hết các thương vụ M &A, các bên thường chú trọng đàm phán các vấn đề sau đây:

(a) Các điều kiện tiên quyết để giao dịch có hiệu lực

Một giao dịch M &A có thể liên quan đến những vấn đề cần được thảo luận trong nội bộ các bên; hoặc một vấn đề cụ thể mà vấn đề này phải xin và nhận được chấp thuận hay phê chuẩn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hoặc liên quan đến những vấn đề then chốt khác mà nếu thiếu nó, bên mua có thể sẽ không mua nữa hoặc bên bán không thể bán. Trong quá trình xác định hoặc đàm phán một giao dịch M &A, thông thường các bên sẽ quy định các vấn đề này thành các điều kiện tiên quyết mà nếu các điều kiện này không được thỏa mãn thì giao dịch, mặc dù đã được hai bên ký kết, sẽ không được coi là có hiệu lực. Đối với một giao dịch M &A có điều kiện, các bên phải thỏa thuận với nhau về lịch biểu và thời hạn dự kiến để một hoặc cả hai bên phải thực hiện và hoàn thành các điều kiện tiên quyết đó trước khi tiến hành các công việc tiếp theo, hoặc trước khi bên bán nhận được một khoản tiền đã thỏa thuận trong hợp đồng. Thực tế, mỗi bên sẽ đặt ra các mốc thời gian để yêu cầu bên kia hoàn thành các công việc theo mốc thời gian đó. Tuy nhiên, không phải lúc nào mỗi bên cũng sẽ đạt được mục đích của mình về vấn đề này và các bên thường phải thỏa hiệp để có thể đạt được thỏa thuận.

(b) Các khẳng định và đảm bảo của bên mua

Tất cả các thỏa thuận M &A tiêu chuẩn đều thiết kế một phần quy định các khẳng định và đảm bảo của các bên khi tham gia giao dịch. Theo đó, một bên sẽ khẳng định và bảo đảm với bên kia rằng, bên đó: (i) được thành lập hợp lệ và đang tiến hành hoạt động kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam; (ii) có đủ quyền hạn và thẩm quyền để ký kết và thực hiện các hợp đồng và thỏa thuận liên quan đến giao dịch; (iii) việc ký kết và thực hiện giao dịch không vi phạm điều lệ và các quy định khác của bên đó và bên đó đã nhận được sự cho phép, chấp thuận cần thiết (trong nội bộ bên đó hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) để ký kết và thực hiện giao dịch; (iv) tài sản (cổ phần, phần vốn góp, bất động sản, máy móc thiết bị) không đang bị cầm cố, thế chấp hoặc đang được sử dụng làm biện pháp bảo đảm cho bất cứ nghĩa vụ nào của bên đó hoặc bên thứ ba; (v) (thường áp dụng đối với bên bán) bên đó sẽ không ký kết bất cứ thỏa thuận /hợp đồng nào liên quan đến việc bán, chuyển nhượng tài sản hoặc cung cấp dịch vụ có giá trị nhất định được các bên thỏa thuận hoặc ký kết các hợp đồng tín dụng, vay mượn mà không thông báo (hoặc không được sự chấp thuận) của bên mua; (vi) bên đó sẽ vẫn tiến hành (hoặc không thay đổi) bản chất hoạt động kinh doanh mà mình đang thực hiện kể từ ngày ký kết các thỏa thuận liên quan đến giao dịch; (vii) bên đó (bên bán) sẽ duy trì sổ sách kế toán theo đúng chuẩn mực cho phép và bảo đảm rằng bên mua có thể dễ dàng xem xét các sổ sách này khi có yêu cầu hợp lý; và (viii) các tuyên bố và đảm bảo khác về quyền sở hữu trí tuệ, về duy trì tài khoản ngân hàng và duy trì các hợp đồng đã ký hoặc đang thực hiện, duy trì và hoàn tất việc đăng ký tài sản (đối với những tài sản pháp luật đòi hỏi phải đăng ký), duy trì các hợp đồng bảo hiểm, giải quyết xong toàn bộ các vấn đề lao động...

Đối với một giao dịch M &A điển hình, các bên thường xem xét rất kỹ lưỡng các điều khoản này để xác định là thật sự bên đó có khả năng và năng lực để khẳng định và đảm bảo về những vấn đề được quy định hay không. Bởi vậy, việc đàm phán các vấn đề này thường mất rất nhiều thời gian.

(c) Thanh toán thông qua tài khoản ký quỹ (escrow account)

Điều khoản thanh toán và các phương thức thanh toán là điều khoản được cả hai bên rất quan tâm xuất phát từ quan điểm và lợi ích của mỗi bên. Đối với các giao dịch M &A mà bên mua là nước ngoài, việc thanh toán phải được thực hiện phù hợp với các quy định về quản lý ngoại hối. Theo đó, khoản tiền mà bên bán thu được từ giao dịch M &A phải được chuyển vào tài khoản tài khoản đầu tư trực tiếp hoặc tài khoản đầu tư chứng khoán, tùy từng trường hợp). Đối với các giao dịch giữa các công ty trong nước, vấn đề về quản lý ngoại hối không được đặt ra. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, cả bên mua và bên bán đều quan tâm đến cơ chế thanh toán. Do đó, cơ chế thanh toán hợp lý mà các bên thường lựa chọn là thông qua một tài khoản ký quỹ. Sử dụng phương tiện thanh toán này, cả hai bên đều có thể yên tâm là quyền của họ được bảo vệ.

Cụ thể, các bên sẽ mở một tài khoản mà hai bên sẽ cùng là đồng chủ tài khoản. Việc thanh toán sẽ chỉ được ngân hàng thực hiện cho bên bán hoặc bên mua khi ngân hàng nhận được yêu cầu thanh toán được cả hai bên ký hợp lệ và được gửi kèm theo những tài liệu, giấy tờ mà các bên thỏa thuận là cần phải đệ trình cho ngân hàng tại thời điểm thanh toán. Điều khoản về tài khoản ký quỹ này sẽ phải được xem xét cùng với các điều khoản khác liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mỗi bên và lịch biểu để thực hiện và hoàn tất các quyền và nghĩa vụ đó.

(d) Các vấn đề về lao động

Pháp luật lao động của Việt Nam cũng có các quy định bảo vệ quyền lợi của người lao động trong giao dịch M &A. Theo các quy định hiện hành, nếu bên bán chuyển nhượng một tài sản là một dây chuyền sản xuất, bên mua sẽ phải tiếp nhận toàn bộ lao động liên quan đến dây chuyền đó. Trong nhiều trường hợp, bên mua sẵn sàng tiếp nhận toàn bộ số lao động liên quan của bên bán nhưng cũng có những trường hợp bên mua chỉ muốn tiếp nhận một phần trong số họ, những người mà theo quan điểm của bên mua có thể tiếp tục làm việc hoặc có thể sẽ làm việc được sau một thời gian đào tạo.

Thực tế, vấn đề này được xử lý theo những cách thức khác nhau. Về mặt nguyên tắc, bên mua sẽ tiếp nhận toàn bộ số lao động liên quan. Trong trường hợp đó, bên mua sẽ yêu cầu bên bán phải cam kết sẽ giải quyết toàn bộ các vấn đề liên quan đến số lao động mà họ sẽ tiếp nhận trước khi giao dịch M &A được coi là hoàn thành. Các vấn đề mà bên mua quan tâm và yêu cầu bên mua giải quyết có thể bao gồm tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp, bảo hiểm và bên mua cũng đề xuất bên bán phải cam kết rằng các vấn đề này đã được giải quyết toàn bộ trước khi hoàn thành giao dịch.

(e) Các vấn đề liên quan đến thuế

Bên mua luôn luôn quan tâm đến vấn đề thuế. Bởi vậy, họ thường yêu cầu bên bán phải cam kết rằng bên này đã hoàn thành mọi nghĩa vụ thuế và tài chính phát sinh từ các hoạt động kinh doanh của mình cho đến ngày hoàn thành. Liên quan đến vấn đề này, bên bán sẽ yêu cầu bên mua phải cam kết rằng trong trường hợp bên mua phải nộp bất cứ khoản thuế, nghĩa vụ tài chính nào sau ngày hoàn thành mà nghĩa vụ này đã được bên bán cam kết là đã thực hiện, bên bán phải hoàn lại tất cả các khoản tiền mà bên mua thanh toán cho cơ quan thuế và hơn nữa, bồi hoàn cho bên mua mọi khoản tiền, nghĩa vụ mà bên mua phải gánh chịu do việc bên bán đã vi phạm cam kết.

Ngoài ra, pháp luật thuế hiện hành của Việt Nam quy định rằng nếu giá trị chuyển nhượng trong giao dịch M &A mà bên bán nhận được cao hơn giá trị ban đầu, bên bán sẽ phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh từ giá trị tăng thêm đó. Rõ ràng, đây là nghĩa vụ bên bán nhưng đây là vấn đề mà các bên luôn đặt ra để đàm phán và nó có thể ảnh hưởng đến giá của giao dịch M &A. Nếu bên bán phải nộp thuế, giá của giao dịch có thể cao hơn đủ để trang trải khoản thuế đó và ngược lại.

(f) Cơ chế giải quyết tranh chấp

Một giao dịch M &A không có yếu tố nước ngoài thì luật điều chỉnh của giao dịch đó là luật Việt Nam và cơ quan giải quyết tranh chấp có thể là tòa án hoặc trọng tài, tùy thuộc vào lựa chọn của các bên. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cho phép các bên trong một giao dịch có thể lựa chọn luật nước ngoài là luật điều chỉnh của giao dịch và cơ quan giải quyết tranh chấp có thể là tòa án hoặc trọng tài Việt Nam hoặc tòa án hoặc trọng tài nước ngoài nếu giao dịch có yếu tố nước ngoài (4). Thực tế cho thấy, các giao dịch mua lại gần đây thường là giao dịch trong đó một bên nước ngoài mua cổ phần, tài sản của một doanh nghiệp Việt Nam. Trong các giao dịch đó, bên nước ngoài thường đề nghị và không thỏa hiệp về cơ chế giải quyết tranh chấp. Theo đó, cơ quan tài phán được lựa chọn là trọng tài nước ngoài (thường là Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore và Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông). Các nhà đầu tư nước ngoài cho rằng, các cơ quan trọng này là các cơ quan giải quyết tranh chấp trung lập, họ có khả năng, kiến thức, kinh nghiệm để giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế.

Tuy nhiên, việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng phải được xem xét trên cơ sở của pháp luật Việt Nam. Luật Tố tụng Dân sự 2003 quy định, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với các giao dịch mà đối tượng là bất động sản là tòa án Việt Nam. Do vậy, các bên trong giao dịch mua tài sản là bất động sản không có cơ hội để đàm phán cơ quan giải quyết tranh chấp trong trường hợp này.

Hầu hết các nhà đầu tư đều quan ngại về hiệu lực thực thi tại Việt Nam của các phán quyết do các cơ quan tài phán nước ngoài ban hành. Việc chọn tòa án nước ngoài là rất hãn hữu do những quy định về thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài của Việt Nam rất hạn chế. Mặc dù Việt Nam là thành viên của Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, nhưng cho đến nay, số lượng các trường hợp, quyết định của trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam còn khá khiêm tốn. Lý do là vì thủ tục công nhận và cho thi hành các phán quyết này rất phức tạp và mất nhiều thời gian. Do đó, khi bàn về vấn đề này, bên nước ngoài thường tìm hiểu xem liệu bên Việt Nam có tài sản ở nước ngoài không để dễ dàng thuận tiện cho việc thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài.

(MKLAW FIRM: Biên tập)

>> Tham khảo dịch vụ luật sư: Tư vấn xây dựng quy chế hoạt động cho doanh nghiệp;

>> Xem thêm:  Trình tự, thủ tục sáp nhập doanh nghiệp ? Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhận sáp nhập ?

5. Nguyên lý của hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) là gì ?

Một cộng một bằng ba: phương trình này là động lực đặc biệt cho một thương vụ mua bán và sáp nhập. Nguyên tắc then chốt đằng sau việc mua một công ty là nhằm tăng giá trị lớn hơn nhiều lần cho cổ đông chứ không chỉ là tổng của hai công ty. Nói cách khác, hai công ty Sáp nhập cùng nhau sẽ có giá trị lớn hơn hai công ty riêng lẻ – và ít nhất nó cũng là lý do đằng sau mua bán và sáp nhập.

Nguyên lý này đặc biệt hữu ích khi các công ty rơi vào những thời kỳ khó khăn do cạnh tranh, thị trường hay bất kỳ yếu tố nào. Những công ty lớn sẽ mua lại các công ty khác nhằm tạo nên một công ty mới có sức cạnh tranh hơn và giảm thiểu chi phí. Các công ty sau khi M&A sẽ có cơ hội mở rộng thị phần lớn hơn và đạt được hiệu quả kinh doanh tốt hơn. Những công ty nhỏ là đối tượng bị mua cũng sẵn sàng để công ty khác mua vì như vậy sẽ tốt hơn nhiều là bị phá sản hoặc rất khó khăn tồn tại trên thị trường.

1. Sự khác nhau giữa Mua bán và Sáp nhập

Mặc dù mua bán và sáp nhập thường được đề cập cùng nhau với thuật ngữ quốc tế phổ biến là “M&A” nhưng hai thuật ngữ mua bán và Sáp nhập vẫn có sự khác biệt về bản chất.

Khi một công ty mua lại (tiếp quản) một công ty khác và đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là mua bán. Dưới khía cạnh pháp lý, công ty bị mua lại không còn tồn tại, bên mua đã “nuốt chửng” bên bán và cổ phiếu của bên mua không bị ảnh hưởng.

Theo nghĩa đen thì sáp nhập diễn ra khi hai doanh nghiệp, thường có cùng quy mô, đồng thuận gộp lại thành một công ty mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ. Loại hình này thường được gọi là “Sáp nhập ngang bằng”. Cổ phiếu của cả hai công ty sẽ ngừng giao dịch và cổ phiếu của công ty mới sẽ được phát hành. Trường hợp Daimler-Benz và Chrysler là một ví dụ về sáp nhập: hai hãng Sáp nhập và một công ty mới (pháp nhân mới) ra đời mang tên DaimlerChrysler.

Tuy nhiên trên thực tế hình thức sáp nhập ngang bằng không diễn ra thường xuyên do nhiều lý do. Một trong những lý do chính là việc truyền tải thông tin ra công chúng cần có lợi cho cả công ty bị mua và công ty mới sau khi sáp nhập. Thông thường, một công ty mua một công ty khác và trong thỏa thuận đàm phán sẽ cho phép công ty bị mua tuyên bố với bên ngoài rằng hoạt động này là sáp nhập ngang bằng cho dù về bản chất là hoạt động mua bán.

Một thương vụ mua bán cũng có thể được gọi là sáp nhập khi cả hai bên đồng thuận liên kết cùng nhau vì lợi ích cho cả hai công ty. Nhưng khi bên bị mua không không muốn bị thâu tóm thì sẽ được coi là một thương vụ mua bán. Một thương vụ được coi là mua bán hay sáp nhập hoàn toàn phụ thuộc vào việc nó được diễn ra một cách thân thiện giữa hai bên hay hay bị ép buộc thâu tóm nhau. Mặt khác, ns còn là cách truyền tải thông tin ra bên ngoài cũng như sự nhìn nhận của ban giám đốc, nhân viên và cổ đông của công ty.

Nguyên lý của hoạt động mua bán , sáp nhập doanh nghiệp (M&A)

Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

2. Cộng hưởng trong M&A

Cộng hưởng là động cơ quan trọng và kì diệu nhất giải thích cho mọi thương vụ mua bán sáp nhập. Cộng hưởng sẽ cho phép hiệu quả và giá trị của doanh nghiệp mới (sau khi sáp nhập) được nâng cao. Lợi ích mà các doanh nghiệp kỳ vọng sau mỗi thương vụ M&A bao gồm:

- Giảm nhân viên: nói chung sáp nhập doanh nghiệp thường có khuynh hướng giảm việc làm. Hai hệ thống sáp nhập lại sẽ làm giảm nhiều công việc gián tiếp, ví dụ các công việc văn phòng, tài chính kế toán hay marketing… Việc giảm thiểu vị trí công việc cũng đồng thời với đòi hỏi tăng năng suất lao động. Đây cũng là dịp tốt để các doanh nghiệp sa thải những vị trí làm việc kém hiệu quả.

- Đạt được hiệu quả dựa vào quy mô: Một doanh nghiệp lớn lúc nào cũng có thế hơn khi giao dịch với các đối tác, kể cả mua văn phòng phẩm hay một hệ thống IT phức tạp thì công ty lớn vẫn có ưu thế khi đàm phán hơn là so với công ty nhỏ. Mặt khác, quy mô lớn cũng giúp giảm thiểu chi phí

- Trang bị công nghệ mới: Để duy trì cạnh tranh, các công ty luôn cần vị trí đỉnh cao của phát triển kỹ thuật và công nghệ. Thông qua việc mua bán hoặc sáp nhập, công ty mới có thể tận dụng công nghệ của nhau để tạo lợi thế cạnh tranh.

- Tăng cường thị phần và danh tiếng trong ngành: Một trong những mục tiêu của mua bán & sáp nhập là nhằm mở rộng thị trường mới, tăng trưởng doanh thu và thu nhập. Sáp nhập cho phép mở rộng các kênh marketing và hệ thống phân phối. Bên cạnh đó, vị thế của công ty mới sau khi sáp nhập sẽ tăng lên trong mắt cộng đồng đầu tư: công ty lớn hơn có lợi thế hơn và có khả năng tăng vốn dễ dàng hơn một công ty nhỏ.

Trên thực tế, đạt được sự cộng hưởng thường khó hơn người ta tưởng – nó không tự đến khi hai công ty sáp nhập. Đương nhiên khi hai công ty sáp nhập dễ nhìn thấy khả năng đạt được lợi thế quy mô nhưng đôi khi nó lại có hiệu ứng ngược lại. Trong nhiều trường hợp, một cộng một lại nhỏ hơn hai. Do đó, việc phân tích chính xác mức độ cộng hưởng trước khi tiến hành những thương vụ M&A rất quan trọng. Khá nhiều nhà quản lý doanh nghiệp đã cố tình vẽ ra bức tranh cộng hưởng để tiến hành các vụ M&A nhằm trục lợi từ việc định giá doanh nghiệp.

3. Một số hình thức Sáp nhập

Dựa vào cấu trúc của từng doanh nghiệp, có khá nhiều hình thức sáp nhập khác nhau. Dưới đây là một số loại hình được phân biệt dựa vào mối quan hệ giữa hai công ty tiến hành sáp nhập:

- Sáp nhập cùng ngành (hay còn gọi là sáp nhập chiều ngang): Diễn ra đối với hai công ty cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường.

- Sáp nhập dọc: Diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, ví dụ giữa một công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp của công ty đó. Chẳng hạn như nhà cung cấp ốc quế sáp nhập với một đơn vị sản xuất kem.

- Sáp nhập mở rộng thị trường: Diễn ra đối với hai công ty bán cùng loại sản phẩm nhưng ở những thị trường khác nhau.

- Sáp nhập mở rộng sản phẩm: Diễn ra đối với hai công ty bán những sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan tới nhau trong cùng một thị trường.

- Sáp nhập kiểu tập đoàn: Trong trường hợp này, hai công ty không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động lĩnh vực kinh doanh đa ngành nghề.

Có hai hình thức sáp nhập được phân biệt dựa trên cách thức cơ cấu tài chính. Mỗi hình thức có những tác động nhất định tới công ty và nhà đầu tư:

- Sáp nhập mua: Như chính cái tên này thể hiện, loại hình sáp nhập này xảy ra khi một công ty mua lại một công ty khác. Việc mua công ty được tiến hành bằng tiền mặt hoặc thông qua một số công cụ tài chính.

- Sáp nhập hợp nhất: với hình thức sáp nhập này, một thương hiệu công ty mới được hình thành và cả hai công ty được hợp nhất dưới một pháp nhân mới. Tài chính của hai công ty sẽ được hợp nhất trong công ty mới.

4. Mua bán

Chúng ta có thể thấy hoạt động mua bán chỉ khác đôi chút so với hình thức sáp nhập. Trên thực tế, nó có thể chỉ khác về mặt thuật ngữ. Giống như sáp nhập, mua bán cũng nhằm mục đích đạt được lợi thế quy mô, tăng hiệu quả và thị phần. Không giống như tất cả các loại hình sáp nhập, mua bán liên quan đến một công ty mua lại một công ty khác chứ không phải hợp nhất để tạo thành công ty mới. Mua bán luôn diễn ra tốt đẹp nếu quan hệ hai bên là ăn ý nhau và cảm thây thỏa mãn với thương vụ đó. Tuy nhiên, cũng có thể mua bán được diễn ra một cách hằn học – khi mà hai đối thủ dùng tiềm lực tài chính để thâu tóm nhau nhằm triệt tiêu sự cạnh tranh.

Trong mua bán, giống như đối với một số giao dịch sáp nhập đã đề cập ở trên, một công ty có thể mua lại một công ty khác bằng tiền mặt, cổ phiếu hay kết hợp cả hai loại trên. Một hình thức khác phổ biến trong những thương vụ mua bán nhỏ hơn là mua tất cả tài sản của công ty bị mua. Công ty X mua tất cả tài sản của công ty Y bằng tiền mặt đồng nghĩa với việc công ty Y chỉ còn lại tiền mặt (và nợ, nếu như có nợ trước đó). Đương nhiên, công ty Y chỉ là vỏ bên ngoài và cuối cùng sẽ thanh lý hoặc phải nhảy vào một lĩnh vực kinh doanh khác.

Một loại hình mua bán khác là sáp nhập ngược, diễn ra khi một một công ty tư nhân mua lại một doanh nghiệp đã niêm yết trên sàn trong một thời gian tương đối ngắn. Thông thường khi khi một công ty tư nhân có triển vọng lớn và muốn tăng vốn sẽ mua một công ty đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán và biến mình thành một công ty đại chúng và được phát hành cổ phiếu.

Nói chung, mục tiêu cuối cùng của tất cả các thương vụ mua bán sáp nhập là tạo ra sự cộng hưởng và nâng cao giá trị lớn hơn nhiều so với giá trị của từng bên riêng lẻ. Thành công của mua bán hay sáp nhập phụ thuộc vào việc có đạt được sự cộng hưởng hay không.

5. Vấn đề định giá trong M&A

Các nhà đầu tư của một công ty khi muốn một công ty khác luôn đặt câu hỏi mua với mức giá bao nhiêu thì có lợi nhất? Do vậy việc định giá một công ty để quyết định mua là một khâu quan trọng trong quá trình mua bán sáp nhập doanh nghiệp. Thông thường, cả hai bên trong thương vụ mua bán hay sáp nhập đều có cách đánh giá khác nhau về giá trị công ty bị mua: bên bán có khuynh hướng định giá công ty của mình ở mức cao nhất có thể trong khi bên mua sẽ cố gắng trả giá thấp nhất trong khả năng. Để đưa ra một mức giá công bằng và được chấp nhận bởi cả hai bên, người ta đã đưa ra nhiều phương pháp phù hợp để định giá các công ty. Phương thức phổ biến nhất là nhìn vào các công ty có thể so sánh được trong cùng một ngành, tuy nhiên các nhà môi giới thường sử dụng nhiều công cụ khác nhau khi định giá công ty. Dưới đây giới thiệu một số phương pháp định giá:

- Tỷ suất P/E: Bên mua có thể so sánh mức P/E trung bình của cổ phiếu trong ngành để xác định mức chào mua một cách hợp lý;

- Tỷ suất Giá trị doanh nghiệp trên Doanh thu (EV/Sales): Với chỉ số này, bên mua so sánh chỉ số này với các doanh nghiệp khác trong ngành và sẽ chào giá ở một mức gấp một cơ số lần doanh thu;

- Chi phí thay thế: Trong một số trường hợp, mua bán được dựa trên việc cân nhắc yếu tố chi phí để thiết lập một công ty từ đầu so với mua một công ty đang có sẵn. Chẳng hạn, nếu tính một cách đơn giản giá trị công ty bao gồm toàn bộ tài sản cố định, trang thiết bị và đội ngũ nhân viên. Về lý thuyết, công ty đi mua có thể đàm phán mua lại công ty đang tồn tại với giá trị kể trên hoặc là thiết lập một công ty mới tương tự để cạnh tranh. Rõ ràng, để xây dựng một công ty mới sẽ mất một khoảng thời gian dài để tập hợp đội ngũ quản lý & nhân sự tốt, mua sắm tài sản và tìm kiếm khách hàng chưa kể việc ra đời phải cạnh tranh với công ty đang tồn tại trên thị trường. Tuy nhiên phương pháp này cũng khó đối với các ngành dịch vụ, nơi mà tài sản quan trọng nhất là con người và phương thức dựa trên ý tưởng là chính.

- Phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF): Đây là một công cụ định giá quan trong trong mua bán và sáp nhập. Mục đích của DCF là xác định giá trị hiện tại của công ty dựa trên ước tính dòng tiền mặt trong tương lai. Dòng tiền mặt ước tính (được tính bằng công thức “Lợi nhuận + khấu hao – chi phí vốn – thay đổi vốn lưu thông”) được chiết khấu đến giá trị hiên tại có tính đến trọng số trung bình vốn của công ty (WACC). Tất nhiên DCF cũng có những hạn chế nhất định nhưng rất ít có công cụ nào có thể cạnh tranh được với phương thức định giá này về mặt phương pháp luận.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Khi nào 1 công ty được coi là công ty mẹ của 1 công ty con?

Trả lời:

Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó;

Thứ hai, Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;

Thứ ba, Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó.

Câu hỏi: Sở hữu bao nhiêu phần trăm vốn thì trở thành công ty mẹ?

Trả lời:

Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó;

Câu hỏi: Công ty con có được đầu tư góp vốn vào công ty mẹ không?

Trả lời:

Công ty con không được đầu tư mua cổ phần, góp vốn vào công ty mẹ. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được đồng thời cùng góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.