1. Tư vấn giải quyết việc tranh chấp đất lâm nghiệp bị lấn chiếm đã hòa giải nhiều lần không thành ?

Xin tư vấn tranh chấp đất lâm nghiệp: Xin luật sư bớt chút thời gian tư vẫn giúp gia đình tôi với! Tôi có làm đơn ra tòa để đòi lại đất lâm nghiệp của gia đình tôi bị lấn chiếm. Vụ việc tòa đã điều tra và hòa giải yêu cầu gia đình ông A trả cho gia đình tôi.

Nhưng tôi vẫn có một thắc mắc là , lúc gia đình ông A khai thác cây, gia đình tôi đã yêu cầu trả đất và tôi đã làm đơn lên UBND xã yêu cầu giải quyết nhưng vì ông A lúc đấy đang làm cán bộ xã nên vụ việc ko được giải quyết. Nay ông về hưu, gia đình tôi mới kiện. Nhưng lúc kiện tôi lại không ghi trong đơn nội dung đòi công chăm sóc cây gần 3 năm nay (ông A tiếp tục trồng cây từ thời điểm tôi làm đơn gửi UBND xã đến nay đã gần 3 năm), vì lúc gia đình ông A trồng cây, gia đình tôi đã làm đơnd và đến tận nhà ông A yêu cầu trả đất nhưng ông vẫn trồng cây. Vì quá bức xúc nên khi gia đình ông A trồng cây xuống, gia đình tôi cứ tiến hành chăm sóc gần 3 năm nay, cây phát triển tốt và gia đình ông A không nói gì, đến nay tòa giải quyết buộc gia đình tôi thanh toán trả cho ông A 30 triệu tiền cây trên đất. Tôi không đồng ý, vì nhà ông A chỉ trồng cây xuống mà không chăm sóc. Nếu tính tiền giống cây và công trồng chỉ 15 triệu.

Vậy nay tôi muốn bổ sung đơn đòi công chăm sóc có được không? (hiện tôi vẫn giữu lá đơn gửi UBND xã có đóng dẫu nhận đơn của xã nhưng không giải quyết). Liệu gia đình tôi có đòi được công chăm sóc hay vẫn phải thanh toán số tiền 30 triệu? Việc tôi làm đơn gửi UBND xã nhưng không được giải quyết mà vẫn để gia đình ông A trồng cây vào đất tôi có vi phạm không ah.

Tôi mong luật sư tư vấn giúp tôi! xin chân thành cảm ơn Luật sư rất nhiều!

Luật sư trả lời:

Theo thông tin quý khách hàng cung cấp, có thể căn cứ vào Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để kháng cáo. Với thông tin chia sẻ trên là Tòa án đã xét xử và đưa ra quyết định gia đình bạn phải trả lại cho Ông A 30 triệu đồng tức là giá trị số cây Ông A trồng trên đất đã chiếm. Tuy nhiên gia đình quý khách không đồng ý với quyết định của Tòa an và yêu cầu Ông A bồi thường tiền chăm sóc cây.

Điều 271. Người có quyền kháng cáo :

"Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm".

bạn có thể làm đơn kháng cáo gửi lên Tòa án ra quyết định Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hoặc gửi đơn kháng cáo quá hạn theo Điều 275 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 :

" 1. Kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật này là kháng cáo quá hạn. Sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm.

2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và người kháng cáo quá hạn. Trường hợp người kháng cáo, Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

3. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc kháng cáo quá hạn, ý kiến của người kháng cáo quá hạn, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cùng cấp; nếu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định ".

Với trường hợp gửi đơn sau 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ vào Điều 166 Luật đất đai năm 2013 : Quyền chung của người sử dụng đất

" 1. Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.

3. Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp.

4. Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.

5. Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.

6. Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật này.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai " .

Nếu gia đình quý khách hàng đã thực hiện việc chăm sóc cây trồng trong 3 năm thì có thể hưởng thụ thành quả do mình tạo ra và chỉ cần trả gia đình Ông A 15 triệu đồng tiền giống cây trồng.

Việc bạn làm đơn gửi UBND xã nhưng không được giải quyết mà vẫn để gia đình ông A trồng cây vào đất là không vi phạm pháp luật. Bởi bạn đã thể hiện ý chí của mình không đồng tình với hành vi của ông A bằng cách yêu cầu ông A trả lại đất và gửi đơn tố cáo đến UBND.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Tham khảo thêm: Tư vấn về việc đòi lại đất khai hoang ? Thủ tục khởi kiện đòi lại đất khai hoang ?

2. Tranh chấp đất có sổ hồng thì có được bán không ?

Kính gửi luật sư. Cháu có vấn đề muốn nhờ luật sư tư vấn giúp cháu. Mẹ cháu có mua lô đất của gì cháu và gì cháu đã đi làm sổ hồng chính chủ đứng tên mẹ cháu năm 2011 và lô đất đó hiện nay mẹ cháu vẫn đang sử dụng để kinh doanh. Nhưng nay do gia đình cháu không có mục đích để sử dụng nữa nên muốn bán đi.
Nhưng gì cháu lại gửi đơn kiện ra Ủy ban nhân dân xã nơi có lô đất của mẹ cháu bảo mẹ cháu dùng bùa mê thuốc lú để làm sổ đỏ tên mẹ cháu mà gì cháu là người bình thường có đầy đủ trách nhiệm dân sự của 1 công dân. Vậy cháu muốn nhờ luật sư tư vấn giúp cháu để gia đình cháu có hướng giải quyết.
1. Dì cháu kiện như vậy có đúng không?
2. Nhà cháu muốn bán đất cho người khác thì họ có làm được sổ hồng không và có vướng mắc gì không?
Cháu cám ơn luật sư rất nhiều.

Tranh chấp đất có sổ hồng cấp 2011 ?

1. Trong trường hợp gì bạn đã đưa đơn kiện để đòi lại mảnh đất. Nhưng thực chất mảnh đất này đã được đứng tên mẹ, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sự kiện hợp đồng mua bán đất đã xẩy ra rồi, điều cần làm là bạn có đủ chứng cứ về hợp đồng mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất kia là hoàn toàn đúng pháp luật và dựa theo ý chí tự nguyện của gì bạn và mẹ bạn tại thời điểm đó. Càn có các laoji bằng chứng chứng minh như sau:

+ Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Cần có công chứng chứng thực của Ủy ban nhân dân xã phường, văn phòng công chứng)

+ Giấy ghi nhận chuyển tiền giữa hai bên, biên lai, hóa đơn chuyển khoản, thanh toán.

+ Hợp đồng đặt cọc mua đất.

+ Người làm chứng.

+ Các bằng chứng ghi âm, ghi hình, chụp ảnh và các giấy tờ liên quan đến hợp đồng mua bán này.

2. Khi xẩy ra tranh chấp thì bạn không thể thực hiện được quyền chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất được và không thể nào làm được sổ hồng. Nếu muốn bán, chuyển nhượng phải đợi đến khi nào toàn án có phán quyết mảnh đất đất thuộc quyền sở hữu của bân nào thì mới mua bán hay làm sổ hồng được.

>> Luật sư trả lời: Quy định chuyển đất khai hoang thành đất đấu thầu UBND xã ?

3. Hướng dẫn giải quyết vấn đề về tranh chấp đất công?

Thưa luật sư. Hiện là sinh viên mới ra trường. Gia đình tôi ở khu vực đường bờ kè có công viên đối diện, công viên kéo dài hết cả con đường. Công viên có rất nhiều khách qua lại và trước nhà có cái vỉa hè khoảng 3 mét chiều sâu, hầu như gia đình nào cũng kinh doanh buôn bán trong phận sự vỉa hè của họ.
Gia đình tôi không buôn bán gì cả, thế nên gia đình bên cạnh mở quán nước phần vỉa hè gia đình họ và lấn chiếm gần hết phần vỉa hè gia đình tôi, đến nhiều lúc không có lối đi, gây ảnh hưởng đến gia đình tôi. Khi gia đình tôi lên tiếng thì họ bảo đây là đất công, họ muốn để đâu họ để. Thưa luật sư, tôi muôn hỏi luật sư về việc gia đình bên cạnh hành động như vậy là sai hay đúng?Tôi mu
\ốn kiện tụng về sự việc này thì có được không?
Và thưa luật sư, ai sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ việc này. Xin cám ơn luật sư. Tôi có đính kèm file hính ảnh mô tả sự việc tôi diễn tả trên, phần giữa hai đường kẻ xanh là khu vực vỉa vè gia đình tôi.

4. Hỏi về việc tranh chấp đất thuộc tài sản thừa kế ?

Chào luật sư, Tôi xin trình bày việc của mình. Năm 2000 bà nội tôi mất, sau đó bán nhà của bà nội, thì do ba mẹ tôi xoay tiền để làm giấy tờ sổ đỏ, làm giấy tờ như vậy mới bán đc, khi bán được nhà thì ba mẹ tôi chỉ lấy lại số tiền làm giấy tờ chứ không lấy phần chia. Rồi sau đó ba mẹ tôi có mua một miếng đất và xây nhà. Bây giờ nhà tôi muốn bán.
Ba tôi có đi nói với họ sắp bán nhà dời về bình dương. Thế là họ nói bán đi rồi chia. Rồi một người cô của tôi lại nói họ_ những người anh em còn lại sẽ quậy và tranh chấp vì cho rằng căn nhà ba mẹ tôi có số tiền của căn nhà nội tôi (do họ đặt điều cho như vậy). Trong khi đó tôi đã nói căn nhà đó ba mẹ tôi không lấy phần chia, mà chỉ lấy lại tiền làm giấy tờ. Vì lúc đó không ai có tiền làm giấy tờ, có mẹ tôi là con dâu có khả năng làm. Vậy mà bâu giờ ai nấy phá hết tiền chia, khổ sở rồi họ lăm le muốn chia căn nhà của ba mẹ tôi đứng tên trên giấy sổ đỏ đàng hoàng. Vậy mà bây giờ cô tôi cứ nói mấy anh em còn lại sẽ phá chuyện bán nhà và đưa vào diện tranh chấp, rồi cô cứ nói là cô sẽ làm chứng là họ không phá được. Nhưng tôi cứ ấm ức tại sao cô tôi lại có thể nghĩ ra được như vậy trong khi đó là do họ mấy người anh em còn lại đặt điều chứ giấy tờ ba mẹ tôi đứng tên mà tôi không hiểu sao lại có thể tranh chấp.
Nên tôi xin hỏi quý luật sư là họ có tranh chấp phá được hay không, và họ phải có bằng chứng gì mới phá được chuyện của tôi, hay tôi phải làm gì trước những suy nghĩ đặt điều của họ. Nói chung tôi cứ thấy nó vô lý làm sao trước những điều mà cô tôi nói hay mấy người anh em còn lại có ý lăm le.

>> Luật sư trả lời: Những vấn đề pháp lý cần biết khi giải quyết tranh chấp đất đai ?

Di sản thừa kế đó là tài sản để lại, là sự dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống. Di sản thừa kế được thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật. Di sản thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống theo sự định đoạt của người đó kho họ còn sống thông qua di chúc. Di sản thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

Tại Điều 612 Bộ luật dân sự 2015 thì di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

Trong trường hợp của bạn, khi bà nội bạn mất, căn nhà chính là di sản của bà khi chết để lại đã được bố mẹ bạn làm và đứng tên trên giấy sử dụng đất, nhà và sau đó chia cho các anh, chị, em của bố bạn. Do vậy, thực tế phần di sản của bà đã được chia hết cho các con.

Đối với nhà bạn là căn nhà do bố mẹ bạn mua được sau khi bà nội bạn đã mất, đương nhiên đó không phải là phần di sản của bà được và các anh em của bố bạn tranh chấp ngôi nhà là không có căn cứ. Đây là tài sản của bố mẹ bạn và đã đứng tên hợp pháp trên sổ hồng. Họ không thể tranh chấp được ngôi nhà này.

5. Giải quyết tranh chấp đất lâm nghiệp thực hiện như thế nào ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Từ năm 1990, gia đình ông Đại sử dụng khoảng 7 ha đất sản xuất lâm nghiệp để trồng cây ăn quả và trồng rừng tại xã V, huyện H. Gia đình ông Kim sử dụng 5 ha đất liền kề với gia đình ông Đại. Do không có sức lao động nên trên thực tế, gia đình ông Đại chỉ sử dụng khoảng 4 ha, còn khoảng 3 ha bị gia đình ông Kim lấn chiếm dần từ năm 1996.
Diện tích nói trên gia đình ông Đại khai phá cho nên không có giấy tờ gì và trong hồ sơ địa chính lưu giữ tại UBND xã cũng không thể hiện ai là người sử dụng hợp pháp. Ông Đại làm đơn gửi đến UBND xã xin được đòi lại diện tích đã bị gia đình ông Kim lấn chiếm thì có được không?

Trả lời:

Trước hết cần phải khẳng định rằng, đây là trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình, cá nhân với nhau mà không có các giấy tờ hợp lệ được quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003. Gia đình ông Đại và ông Kim có thể tiến hành thương lượng hoà giải về quyền sử dụng 3 ha đất rừng đang có tranh chấp. Nếu 02 bên không thể thống nhất với nhau thì các bên có quyền gửi đơn đến UBND xã để được hoà giải, Chủ tịch UBND xã có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho một Phó Chủ tịch hoặc cán bộ địa chính xã tổ chức hòa giải. Trong trường hợp hoà giải không thành thì theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003, thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trong trường hợp này thuộc thẩm quyền của cơ quan quan lý nhà nước về đất đai, cụ thể là UBND cấp huyện.

Trong trường hợp này, Chủ tịch UBND xã hoặc người được ủy quyền cần giải quyết như sau:

Thứ nhất, giải thích cho ông Đại rằng thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Đại và ông Kim thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND huyện H.

Thứ hai, hướng dẫn ông Đại làm đơn gửi UBND huyện H đề nghị giải quyết, UBND xã có trách nhiệm phối hợp với UBND huyện H trong việc xác định căn cứ để xem xét giải quyết việc đòi lại 03 ha của ông Đại, cụ thể:

- Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do gia đình ông Đại và ông Kim đưa ra;

- Ý kiến của các thành viên Hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai gồm:

+ Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND xã làm Chủ tịch Hội đồng;

+ Đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã;

+ Trưởng thôn nơi ông Đại và ông Kim thường trú;

+ Đại diện của một số hộ dân sống lâu đời tại xã biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó;

+ Cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp - hộ tịch xã;

- Thực tế sử dụng đất của các bên đương sự ngoài diện tích đang có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại xã;

- Sự phù hợp của hiện trạng sử dụng đất đang có tranh chấp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt;

- Chính sách ưu đãi người có công với đất nước;

- Quy định của pháp luật về giao đất, cho thuê đất.

Trên cơ sở các dữ kiện trên, UBND xã phối hợp theo yêu cầu của UBND huyện H để xem xét giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Đại và ông Kim.

Trong trường hợp sau khi Chủ tịch UBND huyện đã có quyết định giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Đại và ông Kim nhưng các bên đương sự vẫn không đồng ý với quyết định đó, thì họ có quyền tiếp tục gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Chủ tịch UBND tỉnh. Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch UBND tỉnh là quyết định giải quyết cuối cùng.

>> Tham khảo nội dung: Tư vấn giải quyết tranh chấp đất canh tác khi Bố Mẹ qua đời?

6. Xin cấp sổ đỏ khi người nhà đang tranh chấp đất ?

Xin tư vấn luật quyền chủ sở hữu nhà đất. Tôi đang ở trên 1 mảnh đất đã qua 35 năm nhưng không có giấy tờ về quyền thừa kế hay quyền sử dụng. Vậy tôi có được được cấp sổ đỏ không?

Cụ thể : Ông tôi sinh được 3 người con trai. Bố tôi được giao ở nhà đất tổ tiên. Hai chú của tôi được chia đất ở nơi khác. Nhà tôi đóng thuế đầy đủ tiền đất từ năm 1980 đến nay. Nay tôi xin cấp làm sổ đỏ cho mảnh đất này. Nhưng vì 2 chú tôi muốn hưởng thừa kế trên mảnh đất tôi đang ở nên không được.

Vậy xin công ty tư vấn liệu nhà tôi có được xin cấp sổ đỏ được không?

Xin cấp sổ đỏ khi người nhà tranh chấp đất

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi:1900.6162

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, công ty xin được tư vấn như sau:

Hai chú của bạn hiện tại có mong muốn được thừa kế mảnh đất bạn đang ở nhưng không có chứng cứ để chứng minh hai chú có khả năng xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất này (sử dụng ổn định lâu dài và không có tranh chấp, giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 điều 100 Luật Đất đai 2013. Do đó hai chú của bạn không có quyền tranh chấp mảnh đất này với gia đình bạn.

Vì vậy, bạn hoàn toàn có thể tới UBND cấp huyện để đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đang ở. Đất bạn đang ở là đất từ tổ tiên để lại, ông bạn giao cho bố bạn ở. Do là đất của tổ tiên để lại, ông và bố bạn hoàn toàn có thể chứng minh được đây là đất ông sử dụng ổn định lâu dài (là đất tổ tiên để lại, gia đình có đóng tiền thuê đất hàng năm), không có tranh chấp đất để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất kia, đứng tên bạn hoặc bố bạn, trong Giấy chứng nhận (theo quy định tại khoản 2 điều 101 Luật Đất đai 2013), mà không cần đứng tên ông bạn rồi mới thực hiện sang tên (tặng cho, thừa kế).

" Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;
g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ."

" Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. "

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê