1. Tư vấn giải quyết tranh chấp đất canh tác khi Bố Mẹ qua đời?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Năm 1992 bố mẹ tôi được hợp tác xã chia cho 1 số diện tích ruộng canh tác và mang tên bố tôi.Trong sổ hộ khẩu và sổ ruộng đất có tên bố tôi, mẹ tôi và chú út.

Năm 1993 chú út lấy vợ ra ở riêng trên đất của chú út mua, bố mẹ tôi ở với vợ chồng tôi trên đất do tôi tự tay mua, còn đất ở của bố mẹ tôi đã ở thì bán cho người khác để trả nợ. Tôi nuôi bố tôi từ năm 1995 đến khi bố tôi qua đời (2003, cùng năm đó mẹ tôi cũng qua đời). Trong suốt thời gian tôi nuôi bố tôi, tất cả ruộng đất của bố mẹ tôi giao cho tôi canh tác và nuôi bố mẹ tôi nhưng trên giấy tờ ruộng đất vẫn mang tên như sổ cũ (tức là vẫn bao gồm tên của bố mẹ tôi, tôi và chú út). Khi bố mẹ tôi qua đời không để lại bất kỳ 1 giấy tờ nào cho con nào, sau đó khoảng 3 năm chú út làm thủ tục sang tên số ruộng đất của bố tôi, đứng tên chú út (tức là tất cả số diện tích ruộng mà tôi canh tác khi nuôi bố mẹ tôi đã sang tên chú út).Vậy cho tôi Hỏi:

1: Từ khi bố mẹ tôi mất đến bây giờ, số diện tích ruộng đất đứng tên bố tôi nhà nước có cắt quyền lợi của bố tôi hay không?

2: Nếu bố tôi vẫn còn quyền lợi trong số đất ruộng đó thì tôi và chú út sẽ được hưởng quyền lợi như thế nào

3: chú út đã sang tên số ruộng cho chú 1 mình như vậy có hợp pháp không? tôi là người có công nuôi bố mẹ và canh tác số ruộng đó tôi có quyền lợi gì không? và tôi cần làm những gì để được công bằng trong phần ruộng đất do bố mẹ tôi để lại

Người gửi: PTThương

>> Tư vấn giải quyết tranh chấp đất gọi: 1900.6162

Trả lời:

1.Thứ nhất về vấn đề từ khi bố mẹ tôi mất đến bây giờ, số diện tích ruộng đất đứng tên bố tôi nhà nước có cắt quyền lợi của bố tôi hay không?

Căn cứ khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai của Quốc hội, số 45/2013/QH13:

"16. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất."

Như vậy sổ đỏ là căn cứ pháp lý xác nhận quyền sử dụng của cá nhân với phần diện tích đất trên nên trong trường hợp này bố bạn đứng tên trong sổ đỏ nên bố bạn vẫn có quyền lợi với diện tích đất trên.

2.Thư hai về vấn đề Nếu bố tôi vẫn còn quyền lợi trong số đất ruộng đó thì tôi và chú út sẽ được hưởng quyền lợi như thế nào?

Căn cứ Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Trong trường hợp này chú út bạn do đứng tên trong sổ đỏ nên ngoài quyền lợi được hưởng với phần diện tích tương ứng trong sổ đỏ thì chú út còn được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật với phần di sản của bố bạn để lại. Và bạn sẽ được hưởng thừa kế theo quy định.

3.Thứ ba về vấn đề chú út đã sang tên số ruộng cho chú 1 mình như vậy có hợp pháp không? tôi là người có công nuôi bố mẹ và canh tác số ruộng đó tôi có quyền lợi gì không? và tôi cần làm những gì để được công bằng trong phần ruộng đất do bố mẹ tôi để lại?

Căn cứ khoản 1 Điều 106 Luật đất đai năm 2013:

“Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:

a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;

b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.”

Căn cứ Điều 86 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai:

“Điều 86. Thủ tục đính chính Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp

1. Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót cho Văn phòng đăng ký đất đai để đính chính. Trường hợp sai sót do lỗi của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải có đơn đề nghị để được đính chính.

Trường hợp Văn phòng đăng ký đất đai phát hiện Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót thì thông báo cho người sử dụng đất biết và yêu cầu người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Giấy chứng nhận đã cấp để thực hiện đính chính.

2. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra; lập biên bản kết luận về nội dung và nguyên nhân sai sót; lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền thực hiện đính chính vào Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót; đồng thời chỉnh lý nội dung sai sót vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai.

3. Trường hợp đính chính mà người được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng có yêu cầu cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Văn phòng đăng ký đất đai trình cơ quan có thẩm quyền để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”

Như vậy trong trường hợp này bạn nộp tiến hành thủ tục đính chính khi có sai sót về tên người được cấp giấy chứng nhận.

Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn về việc yêu cầu bồi thường hoặc lấy lại đất khai hoang phục hóa bị xã thu hồi ?

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp đất khi không có giấy tờ chứng minh ?

2. Căn cứ giải quyết tranh chấp đất đai khi không có Sổ đỏ ?

Cách giải quyết tranh chấp đất đai khi không có Sổ đỏ

Theo khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, tranh chấp đất đai mà đương sự không có Sổ đỏ hoặc không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai thì đương sự chỉ được lựa chọn 01 trong 02 hình thức giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

1. Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền cụ thể:

- Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết đối với trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau.

- Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết đối với trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

2. Khởi kiện tại Tòa án nhân dân nơi có đất xảy ra tranh chấp theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

Căn cứ giải quyết tranh chấp khi không có Sổ đỏ

Theo khoản 1 Điều 91 Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đất đai, tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có Sổ đỏ hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện dựa theo các căn cứ sau:

1. Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đất đai đưa ra.

- Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì các bên tranh chấp có nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án. Chứng cứ là những gì có thật và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án tranh chấp đất đai.

- Căn cứ vào chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất như ý kiến làm chứng của những hộ gia đình hoặc cá nhân biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng thì Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh sẽ ban hành quyết định giải quyết hoặc Tòa án sẽ ra bản án để xác định người có quyền sử dụng đất.

2. Thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đang sử dụng ngoài diện tích đất đang có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại địa phương;

3. Sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

4. Chính sách ưu đãi người có công của Nhà nước;

5. Quy định của pháp luật về giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.

- Việc giải quyết tranh chấp đất đai khi không có Sổ đỏ hoặc không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì chủ yếu phụ thuộc vào chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng do các bên tranh chấp đưa ra.

- Do không có Sổ đỏ hoặc không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nên bên nào muốn thắng kiện thì bên đó phải cung cấp được chứng cứ nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của mình.

>> Xem thêm:  Mẫu văn bản từ chối nhận di sản thừa kế mới nhất năm 2020

3. Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi có Sổ đỏ

Khi một trong các bên có giấy chứng nhận hoặc có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai thì do Tòa án nhân dân nơi có đất xảy ra tranh chấp giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự dưới đây.

Bước 1. Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện

Chuẩn bị 01 bộ hồ sơ khởi kiện, gồm:

- Đơn khởi kiện theo mẫu.

- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 100.

- Biên bản hòa giải có chứng nhận của UBND xã và có chữ ký của các bên tranh chấp.

- Giấy tờ của người khởi kiện: Sổ hộ khẩu; chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân.

- Các giấy tờ chứng minh khác: Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, ai khởi kiện vấn đề gì thì phải có tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho chính yêu cầu khởi kiện đó.

Bước 2. Nộp đơn khởi kiện

- Nơi nộp: Tòa án nhân dân cấp huyện có đất đang tranh chấp.

- Hình thức nộp: Nộp bằng 1 trong 3 hình thức sau:

+ Nộp trực tiếp tại Tòa án;

+ Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;

+ Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

Bước 3. Tòa thụ lý và giải quyết

- Nếu hồ sơ chưa đủ thì Tòa án yêu cầu bổ sung.

- Nếu hồ sơ đủ:

+ Tòa thông báo nộp tạm ứng án phí.

+ Người khởi kiện nộp tạm ứng án phí tại cơ quan thuế theo giấy báo tạm ứng án phí và mang biên lai nộp lại cho Tòa.

+ Sau đó tòa sẽ thụ lý.

>> Xem thêm:  Cần tư vấn luật cư trú, đăng ký thường trú tại Hà Nội ?

4. Tranh chấp đất dùng vào việc thờ cúng?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi xin được giải đáp như sau: Tôi muốn hỏi dòng họ Lê duy của tôi ở thôn phương châu, xã Phú Phương, huyện Ba Vì, TP Hà Nội đã có đất là 350 m2 và xây cất nhà thờ từ 200 năm đến, có bia đá ghi diện tích đất và năm xây dựng khoảng 60 năm trước. Do chiến tranh lúc đó ông trưởng họ không có đất nên các cụ cho ông trưởng họ đứng tên và ở để chông nom Nhà thờ. Nay ông đã chết, con trai ông ở Miền Nam về đòi họ phải chia cho ông 200m2 đất, các trai đinh trong họ có 350 người không đồng ý và yêu cầu ông mua đất ra nơi khác để ở, nay dòng họ muốn làm sổ đỏ để chứng minh là đất của dòng họ có được không? thủ tục cần nhũng gì để chứng minh, biết rằng trước đây nhà ông trưởng đã được cấp đất và ông đã chuyển đổi đi chỗ khác đề nghị luật sư giúp đỡ ?
Xin trân thành cảm ơn.

Tranh chấp đất dùng vào việc thờ cúng?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 căn cứ xác lập quyền sử dụng đất là do Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.

Theo quy định trên, để chứng minh đây là đất của dòng họ dùng để thờ cúng chứ không phải đất ở của ông trưởng họ thì dòng họ Lê duy cần phải đưa ra một trong các căn cứ sau:

- Nhà nước giao đất, cho thuê đất;

- Nà nước công nhận quyền sử dụng đất;

- Nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Như vậy, nếu dòng họ Lê duy có một trong ba căn cứ xác lập quyền sử dụng đất để chứng minh về quyền sử dụng đất của dòng họ thì con trai ông trưởng họ không có quyền gì để đòi mảnh đất này.

Nếu hai bên không tự hòa giải được thì dòng họ Lê duy có thể gửi đơn đến UBND cấp xã để hòa giải (Điều 202 Luật Đất đai 2013), nếu tiếp tục hòa giải không thành thì vụ tranh chấp đất đai này sẽ được giải quyết theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai 2013 và khi tiến hành giải quyết vụ tranh chấp này dòng họ Lê duy có nghĩa vụ cung cấp một trong các căn cứ xác lập quyền sở dụng đất.

Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

"Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài luật sư tư vấn trực tuyến1900.6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng!

>> Tham khảo ngay: Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai về tự ý tháo dỡ phần mái nhà của hàng xóm khi xây dựng ?

>> Xem thêm:  Tặng cho đất đai có phải đóng thuế không ? Thủ tục tặng cho đất

5. Tư vấn về tranh chấp đất khi xây nhà ?

Xin chào Luật sư .Cho em hỏi: Nhà em có vướng mắc về đất đai với nhà hàng xóm,đã cùng nhau thỏa thuận. Nhà em đồng ý cho nhà họ xây tường lên,đã được một năm từ 2014 đến nay. Giờ nhà em xây nhà họ lại viết đơn kiện lên Xã là nhà em đang xây sang đất nhà họ.

Vậy cho em hỏi phải làm thế nào khi nhà em đang xây dở đã được nửa tháng nay ạ.

Mong nhận được sự tư vấn từ Luật sư! Em xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về tranh chấp đất khi xây nhà?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Trường hợp đất bị lấn chiếm là phần đất giáp ranh

Theo Điểm b Khoản 3 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định:

Trường hợp đang sử dụng đất không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất; người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất".
Trong trường hợp mà việc sử dụng của bạn là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương, đất được sử dụng không sai mục đích, không có tranh chấp thì phần đất mà bạn lấn chiếm trong trường hợp này có thể được xem xét để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với bạn.

Như vậy, nếu việc sử dụng đất của bạn là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương, đất được sử dụng không sai mục đích, không có tranh chấp thì phần đất mà bạn lấn chiếm có thể được xem xét để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với bạn.

2. Trường hợp đất bị lấn chiếm là phần đất thuôc sở hữu của nhà hàng xóm

Điều 12 Luật đất đai 2013 quy định những hành vi bị nghiêm cấm:

1. Lấn chiếm, hủy hoại đất đai.

2. Vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố.

Trong trường hợp gia đình bạn lấn chiếm đất nhà hàng xóm,bên gia đình h hoàn toàn có quyền gửi đơn kiện lên Ủy ban nhân dân cấp xã để giải quyết.

Điều 202 Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội quy định về Hòa giải tranh chấp đất đai:

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Như vậy, hành vi của gia đình bạn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp về đất đai của gia đình hàng xóm. Do đó, bạn có thế hòa giải với hàng xóm về mức chi phí bồi thường trong trường hợp này. Nếu không thể thỏa thuận về mức bồi thường thì có thể lấy mức giá đất tại thời điểm đó của Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh làm căn cứ tính giá xin mua lại phần đất đó. Trong trường hợp không thể thỏa thuận được, UNBD Xã sẽ yêu cầu gia đình bạn tạm dừng xây dựng và hoàn trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm cho gia đình hàng xóM

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn soạn thảo, xác lập di chúc và phân chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật