1. Tư vấn ly hôn, quyền nuôi con và phân chia tài sản ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi và chồng chung sống được 10 năm và có 2 con nhưng chúng tôi chưa đăng ký kết hôn.
Vậy nay tôi muốn ly hôn và nuôi con thì có được chia tài sản không vì nhà và đất ở đều không mang tên tôi ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!!
Người gửi: N.D

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn ly hôn, chia tài sản, quyền nuôi con, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Bạn và chồng bạn chung sống với nhau được 10 năm tức là từ năm 2005. Theo khoản c, điều 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 về thi hành Luật hôn nhân gia đình quy định:

"c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết."

Trường hợp của bạn và chồng không có đăng ký kết hôn nên vấn đề ly hôn không được đặt ra, nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng.

Theo điều 14, 15, 16 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì giải quyết như sau:

"Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn."

"Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con".

"Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."

Như vậy, đối với vấn đề nuôi con thì vẫn tuân theo nguyên tắc điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 theo đó:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Về vấn đề tài sản: Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.

Bạn có trình bày là nhà và đất ở đều mang tên anh ấy, nếu là tài sản riêng của anh ấy thì vẫn thuộc về anh. Tuy nhiên, nếu có công sức đóng góp của bạn là trong thời gian 2 người sống chung thì vẫn được coi là tài sản chung của hai người. Nếu anh ấy thừa nhận đó là tài sản riêng thì anh ấy phải chứng minh, bên cạnh đó bạn cũng cần đưa ra bằng chứng chứng minh công sức đóng góp của bạn trong khối tài sản để được phân chia tài sản chung đó thì bạn mới bảo vệ được quyền lợi của mình.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Chia tài sản là sổ tiết kiệm khi ly hôn như thế nào ?

Thưa Luật sư. Luật sư cho em hỏi chút là em ở nhà chăm con và nội trợ thôi, chồng đi làm. Vậy nếu như ly hôn thì sổ tiết kiệm mang tên chồng có được chia không ạ ?
Em cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn hôn nhân gia đình trực tuyến: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng..."

- Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Như vậy, căn cứ vào quy định pháp luật trên thì nếu sổ tiết kiệm mang tên chồng nhưng hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được coi là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ được chia đôi. Nếu sổ tiết kiệm mang tên chồng, hình thành trước thời kỳ hôn nhân và không có sự thỏa thuận nào khác thì sẽ được coi là tài sản riêng, khi ly hôn tài sản riêng của ai vẫn thuộc về người đó.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Căn nhà vợ tặng cho chồng có còn là tài sản chung của vợ chồng ?

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Thủ tục tố tụng khi giải quyết vụ án ly hôn ?

Thưa luật sư, ba mẹ cháu ly thân năm 1992 vì ba cháu có người mới, 1 mình mẹ cháu nuôi dạy 2 anh em cháu đến bây giờ 2 anh em cháu đã có gia đình riêng. Nhưng cuối năm 2014, ba cháu gửi hồ sơ lên toà án xin ly dị, và đến nay toà án đã giải quyết cho ly dị (xử mẹ cháu văng mặt, vì mẹ cháu bị tai biến mạch máu não không đủ điều kiện sức khoẻ để đến toà án), vấn đề tài sản (1 căn nhà ) toà án cho 2 bên tự giải quyết, nhưng thực tế như sau:

1. Từ lúc ba cháu đi là năm 1992 đến nay ba cháu không đóng góp gì vào tài sản này, lúc ba cháu đi nhà cháu chỉ là một căn nhà nhỏ được xây dựng chừng 35 m vuông, đến nay sau nhiều lần tu sửa mẹ cháu đã xây dựng được 93 m vuông trên miếng đât này và hoàn thành giấy tờ nhà đất.

2. Ba cháu đi không cấp dưỡng và nuôi nấng 2 anh em cháu đến nay (cháu sinh năm 1991, anh cháu sinh năm 1989).

Vậy bây giờ sau khi hoàn tất thủ tục ly hôn, ba cháu đòi chia tài sản là 50% giá trị căn nhà và đòi kiện ra toà nếu mẹ cháu không giải quyết chia tài sản cho ba cháu, vậy xin hỏi luật sư có hợp lí không. Nếu chia tài sản cho ba cháu thì phải giải quyết như thế nào là hợp lí và công bằng?

Xin cảm ơn luật sư!

Thủ tục tố tụng dân sự với vụ án ly hôn?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình trực tuyến:1900.6162

Luật sư tư vấn:

Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Từ quy định trên, trong trường hợp của ba mẹ bạn thì tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (vì ba mẹ bạn ly thân nhưng vẫn được coi là đang trong thời kỳ hôn nhân) sẽ được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố:

- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Vì vậy, nếu mẹ bạn chứng minh được công sức đóng góp để tạo lập, sửa chữa ngôi nhà đó nhiều hơn công sức đóng góp của mẹ bạn (có thể thông qua các hóa đơn, chứng từ về việc xây dựng ngôi nhà,...) thì Tòa án sẽ căn cứ vào các bằng chứng đó để xem xét phân chia tài sản cho hai bé mà không phải là chia đôi nữa.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn luật hôn nhân và phân chia tài sản sau khi ly hôn ?

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Thủ tục ly hôn khi gia đình nhà chồng gây áp lực ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có chuyện muốn nhờ công ty tư vấn giúp như sau: tôi kết hôn đã được 3 năm, tôi và chồng không có mâu thuẫn gì cả, tuy nhiên bắt đầu từ năm thứ 2, khi thấy vợ chồng tôi vẫn chưa có con, mẹ chồng đã bắt đầu có những lời nói bóng gió với tôi. Lâu dần cả bố chồng và họ hàng nhà chồng đều có những lời xúc phạm, mỉa mai tôi. Chuyện này chồng tôi không biết do khi có mặt chồng tôi thì mọi người không nói gì cả.
Khi tôi nói với chồng để 2 vợ chồng nói chuyện với mẹ chồng thì mẹ làm ầm lên, từ lần đó không khí gia đình ngày càng căng thẳng. Chồng tôi cũng chán nên toàn đi sớm về khuya, tránh chạm mặt mẹ và vợ. Đến bây giờ do áp lực quá lớn, tôi cảm thấy chồng tôi không thể là chỗ dựa cho tôi nữa, vậy nên tôi muốn ly hôn. Chúng tôi chưa có tài sản chung gì.
Vậy mong luật sư tư vấn giúp để tôi có thể thực hiện thủ tục ly hôn nhanh chóng ?
Cảm ơn luật sư!

Thủ tục ly hôn khi gia đình nhà chồng gây áp lực.

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để thực hiện thủ tục ly hôn nhanh nhất thì trước tiên bạn cần nói chuyện với chồng mình về vấn đề này, nếu chồng bạn cũng đồng ý ly hôn thì 2 bạn có thể thực hiện thủ tục thuận tình ly hôn.

Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về thuận tình ly hôn như sau:

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Do 2 bạn chưa có con và cũng không có tài sản chung nên sẽ không cần phải thỏa thuận về vấn đề này. Thông thường thủ tục ly hôn thuận tình có thể kéo dài 02 - 04 tháng, tùy thuộc vào việc bạn nộp đủ giấy tờ hay chưa, có bên nào vắng mặt khi Tòa hòa giải và xét xử hay không,... Nếu các thủ tục được thực hiện đầy đủ, không gặp vướng mắc gì thì nhanh nhất bạn có thể giải quyết ly hôn trong vòng hơn 1 tháng.

Hồ sơ xin ly hôn gồm có:

- Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.

- Bản chính Giấy đăng ký kết hôn.

- Bản sao Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của 2 vợ chồng.

Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi 2 bạn đang cư trú.

Lệ phí: 300.000 đồng.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Giải quyết ly hôn chia tài sản khi không đăng ký kết hôn ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Cậu tôi lấy mợ tôi vào năm 1979 và không có làm giấy đăng ký kết hôn. Năm 2011, cậu mợ tôi vì mâu thuẫn nên đã ly thân và làm đơn xin ly hôn, có mang ra phường nhưng phường nói anh chị không làm giấy đăng ký kết hôn nên không phải làm thủ tục ly hôn, chỉ 02 người thỏa thuận với nhau là được.

Đến đầu năm nay 2015, cậu mợ tôi quyết định chia tài sản ra làm 05 phần (cậu, mợ, và 03 người con đã trưởng thành. Trong đó, mợ tôi lấy 02 phần do có 01 người con ở nước ngoài, có lấy chữ ký xác nhận thoả thuận của cậu mợ và 2 người con (người còn lại đang ở nước ngoài). Giá trị tài sản là 01 căn nhà cậu mợ tôi đang ở. Cậu tôi nộp đơn xin ly hôn ra toà, đến lần hoà giải thứ hai thì mợ tôi nói cần phải chia tài sản là căn nhà thừa kế của cậu tôi ở quê và 200 triệu đồng trong tài khoản của cậu. Toà đã yêu cầu trong 30 ngày cậu mợ tôi mang bằng chứng. Cậu tôi chứng minh được căn nhà là tài sản thừa kế và 200 triệu là số tiền có được sau khi làm đơn ly hôn từ năm 2011.

Xin hỏi vấn đề này phải mất bao lâu thì toà mới giải quyết xong? Nếu lần hòa giải tiếp theo mợ tôi nói còn chiếc xe máy cần phải chia tài sản hoặc thứ tài sản gì khác nữa nhằm kéo dài thời gian xử án thì phải làm thế nào? Nay cậu tôi muốn đăng ký kết hôn với người khác và mua nhà trong thời điểm hiện tại thì có được không?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: K.L

Giải quyết ly hôn chia tài sản khi vợ chồng không đăng ký kết hôn ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Tại khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH35 của Quốc hội hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của luật này được thực hiện như sau:

a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001,mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 1/1/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 1/1/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

c) Kể từ ngày 1/1/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật chấp nhận là vợ chồng…”.

Theo quy định tại điểm a khoản 3 nghị quyết 35/2000/QH35 thì trong trường hợp của cậu bạn, cậu và mợ bạn kết hôn năm 1979 mặc dù không có đăng kí kết hôn nhưng được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn Tòa án thụ lý sẽ giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình.

Năm 2011, cậu mợ bạn vì mâu thuẫn nên đã ly thân và làm đơn xin ly hôn, có mang ra phường nhưng phường nói anh chị không làm giấy đăng ký kết hôn nên không phải làm thủ tục ly hôn, chỉ 02 người thỏa thuận với nhau là được. Trong trường hợp trên, Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 thì Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cậu hoặc mợ bạn cư trú mới có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xin ly hôn (điều 33 và 35) và việc ly hôn chỉ có hiệu lực khi có quyết định hoặc bản án cho phép ly hôn của tòa án. Do đó việc ly hôn giữa cậu bạn và mợ bạn vào thời điểm năm 2011 là không đúng thủ tục và hôn nhân vẫn còn tồn tại về mặt luật pháp.

Về việc chia tài sản sau khi ly hôn: về nguyên tắc theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì việc chia tài sản chung trong hôn nhân theo nguyên tắc thỏa thuận nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án chia tài sản chung trong hôn nhân, tài sản riêng của ai thuộc về người đó. Tài sản riêng là tài sản có được từ hợp đồng cho tặng, thừa kế....

Trường hợp của cậu bạn, việc chia tài sản sau khi ly hôn giữa cậu và mợ bạn xảy ra tranh chấp đó là mợ bạn nói cần phải chia tài sản là căn nhà thừa kế của cậu bạn ở quê và 200 triệu đồng trong tài khoản của cậu. Toà đã yêu cầu trong 30 ngày cậu mợ bạn mang bằng chứng. Cậu bạn chứng minh được căn nhà là tài sản thừa kế và 200 triệu là số tiền có được sau khi làm đơn ly hôn từ năm 2011. Để số tài sản đó thuộc sở hữu của cậu bạn cần thỏa mãn những vấn đề sau:

- Về căn nhà : Cậu bạn ngoài việc chứng minh căn nhà thuộc tài sản thừa kế của cậu bạn còn phải chứng minh cậu bạn chưa nhập căn nhà vào tài sản chung của vợ chồng tức là trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà chỉ có mình cậu bạn đứng tên vì theo quy định tại khoản 3 điều 46 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì nghĩa vụ của tài sản riêng nhập vào tài sản chung của vợ chồng được thực hiện như tài sản chung của vợ chồng.

- Về số tiền 200 triệu đồng mà cậu bạn có được từ sau khi làm đơn ly hôn từ năm 2011. Như chúng tôi đã phân tích ở trên, thủ tục ly hôn của cậu mợ bạn năm 2011 là không hợp pháp và hôn nhân của cậu bạn và mợ bạn vẫn còn tồn tại. Do đó tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung và mợ của bạn cũng được chia tài sản trong số tài sản đó.Trong bài viết bạn gửi về Công ty có nói cậu mợ bạn đã tự thỏa thuận riêng mà không nêu rõ cụ thể. Tuy nhiên để tài sản này là tài sản riêng của cậu bạn và thuộc về cậu bạn thì cậu bạn phải chứng minh được là số tiền 200 triệu được hình thành từ tài sản riêng của cậu bạn hoặc từ năm 2011 cậu và mợ bạn đã có một thỏa thuận về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, thỏa thuận được lập bằng văn bản và được công chứng ( Khoản 2 điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ). Theo quy định tại điều 40 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

"Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Về việc bạn hỏi là khi nào mới giải quyết xong việc ly hôn. Theo quy định tại điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án ly hôn của cậu có thời hạn giải quyết là 4 tháng. Trong trường hợp có tích chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì có thể kéo dài thêm 2 tháng nữa, tối đa là 6 tháng.Pháp luật không quy định cụ thể phải hoà giải mấy lần, nhưng thông thường nếu quá 2-3 lần hoà giải mà không thành thì toà án sẽ đưa vụ việc ra xét xử.

Điểm c khoản 1 điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

" Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;" và khoản 1 điều 57 : "Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật."

Như vậy khi tòa án chưa ra quyết định hoặc bản án ly hôn thì quan hệ hôn nhân giữa cậu bạn và mợ bạn vẫn còn tồn tại nên cậu bạn không thể kết hôn với người khác. Về việc mua nhà khi đang chờ tòa án giải quyết ly hôn, để nhà ở là tài sản riêng cậu bạn cần phải chứng minh nhà ở được mua bằng tài sản riêng của cậu bạn ( là tài sản có được do thừa kế, cho tặng, được hình thành từ tài sản riêng) hoặc trước khi mua nhà hai người thỏa thuận xong việc chia tài sản chung, thỏa thuận lập thành văn bản có công chứng, chứng thực.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty chúng tôi. Nếu còn thắc mắc bạn vui lòng liên hệ qua địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc tổng đài 1900.6162 để được tư vấn.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?