1. Chưa làm giấy khai sinh cho con có ly hôn được không ?

Kính chào luật sư! tôi sinh con được 4 tháng và chưa có giấy khai sinh, tôi có giấy đăng kí kết hôn. Khi sanh bé thì chồng không chăm sóc con và không nhận con, tôi muốn làm giấy khai sinh mang họ mẹ có được không ? Tôi làm thủ tục ly dị khi con chưa có giấy khai sinh được không ?
Cảm ơn!
Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê chào bạn đọc, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn tới công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Tại Điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp biện pháp thi hành Luật Hộ tịch như sau:

"a) Họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán;"

Như vậy, khi đăng kí giấy khai sinh, họ của con bạn được xác định theo họ của chồng bạn hoặc họ của bạn theo quy định của pháp luật dân sự, trong trường hợp bạn và chồng bạn không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán.

Về thủ tục ly hôn, bạn phải gửi một bộ hồ sơ xin ly hôn đơn phương tới tòa án nhân dân quận, huyện. Hồ sơ bao gồm các loại giấy tờ sau:

- Đơn xin ly hôn (Theo mẫu) .

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

- Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

Như vậy, bạn phải làm giấy khai sinh cho con bạn trước khi bạn làm thủ tục ly hôn để hoàn thiện bộ hồ sơ xin ly hôn gửi tới tòa án.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Giải đáp pháp luật hôn nhân gia đình về thủ tục ly hôn ?

Luật Minh Khuê tư vấn và giải đáp các câu hỏi của khách hàng về thủ tục ly hôn theo quy định pháp luật hiện hành:

Luật sư phân tích:

1. Quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn:

- Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

- Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn

2. Thủ tục ly hôn:

a, Thủ tục đơn phương ly hôn:

- Hồ sơ bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn theo mẫu.

+ Bản sao sổ hộ khẩu.

+ Bản sao chứng minh nhân dân.

+ Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).

+ Bản sao giấy khai sinh của con bạn.

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính).

Lưu ý: các bản sao giấy tờ trên cần công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật.

- Nơi nộp hồ sơ: Toà án nhân dân quận/huyện nơi bị đơn có hộ khẩu thuờng trú, hoặc cư trú.

- Thời hạn giải quyết: thời hạn giải quyết việc đơn phương ly hôn có thể là 2 tháng đến 6 tháng. Và thời hạn mở phiên tòa là từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

b, Thủ tục thuận tình ly hôn:

- Hồ sơ bao gồm:

+ Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn;

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

+ Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

+ Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

+ Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).

- Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi cư trú, làm việc của một trong hai bên.

- Thời gian giải quyết:

+ Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.

+ Trong thời hạn 15 ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

3. Giải quyết ly hôn đơn phương khi bị đơn vắng mặt, không có nơi cư trú, không xác định được địa chỉ bị đơn

a, trường hợp bị đơn vắng mặt

- Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng Xét Xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị Xét Xử vắng mặt.
Tòa án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa.

- Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì Xử lý như sau:

+ Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị Xét Xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

+ Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành Xét Xử vắng mặt họ;

Thời gian hoãn phiên tòa không quá 30 ngày làm việc. Nếu tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì tòa sẽ tuyên bố xử vắng mặt.

b, Trường hợp bị đơn không đăng ký tạm trú, biết địa chỉ của bị đơn

Đối với trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện có ghi đầy đủ cụ thể và đúng địa chỉ của người bị kiện, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo đúng quy định nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cho Toà án, nhằm mục đích giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện, thì được coi là trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ. Toà án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Cần trình bày với Tòa án về việc bị đơn không có nơi làm việc rõ ràng và nơi cư trú cũng không ổn định (với lý do không đăng ký tạm trú). Lúc đó, Tòa án sẽ tiếp tục tiến hành thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường.

c, Trường hợp bị đơn vắng mặt, không biết địa chỉ

- Thời gian vắng mặt: khi người đó biệt tích trong sáu tháng liền trở lên

- Nguyên đơn có quyền quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và đồng thời có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó theo quy định của Bộ luật dân sự.

- Gửi kèm theo đơn yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải có chứng cứ để chứng minh là người đó biệt tích trong sáu tháng liền trở lên (xác nhận của công an xã, phường). Trong trường hợp có yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt thì phải cung cấp tài liệu về tình hình tài sản của người đó, việc quản lý tài sản hiện có và danh sách những người thân thích của người đó.

- Trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án nhân dân phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu

Nếu người có yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm trở về thì Tòa án ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.

- Quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi trú (Điều 326 BLTTDS): sau khi chấp nhận đơn yêu cầu, Tòa án mở phiên họp và ra quyết định thông báo tìm người vắng mặt ở nơi cư trú.

- Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thành hoặc Đài truyền hình trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp. Mọi chi phí cho việc đăng, phát sóng, thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu.

4. Án phí ly hôn

- 300.000 đồng nếu không chia tài sản

- Tranh chấp có tài sản

Giá trị tài sản có tranh chấp Mức án phí
a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống 300.000 đồng
b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng 5% giá trị tài sản có tranh chấp
c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng
d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng
đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng 72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng
e) Từ trên 4.000.000.000 đồng 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng

4. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

- Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

- Con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con

5. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

- Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

- Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

- Trong trường hợp cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

- Trong trường hợp có căn cứ khi người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện, thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

+ Người thân thích;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

+ Hội liên hiệp phụ nữ.

6. Quyền thăm nom con sau khi ly hôn

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Quý khách có thể dựa vào nội dung tư vấn trên đây để trả lời câu hỏi của mình. Luật Minh Khuê xin trả lời một số câu hỏi có nội dung riêng biệt như sau:

Xin chào luật sư! tôi có một câu hỏi muốn nhờ luật sư tư vấn. Vợ chồng tôi đang có dự định mua đất để xây nhà và số tiền để mua mảnh đất đó là do bố mẹ tôi bán mảnh đất riêng của bố mẹ tôi cho tôi để mua. Vậy tôi xin hỏi nếu sau này vợ chồng tôi ly hôn thì mảnh đất của vợ chồng tôi mua sau này có được xem là tài sản chung của vợ chồng không? để chứng minh đó là tài sản của riêng mình tôi thì tôi phải chuẩn bị những giấy tờ gì? tôi xin chân thành cảm ơn luật sư.

=> Điều 33. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về tài sản chung của vợ chồng như sau:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo quy định trên, thì quyền sử dụng đất nếu sau khi kết hôn mà bạn được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng của bố mẹ bạn cho bạn thì mảnh đất sẽ được xác định là tài sản riêng của bạn. Bạn có thể chứng minh bằng biên bản tặng cho riêng bạn khoản tiền bán đất của bố mẹ, và mảnh đất đang ở được mua bởi tiền của bố mẹ bạn cho hoặc có xác nhận của chồng bạn rằng đây là tài sản riêng của bạn.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Chồng Thái Bình, vợ Hải Dương, nộp đơn ly hôn ở đâu ?

Xin chào luật sư, tôi có câu hỏi muốn nhờ luật sư: Tôi hiện tại đang sống ở Hải Dương, chồng tôi sống tại Thái Bình. Tôi muốn nộp đơn ly hôn thì nộp ở đâu và thủ tục cần những gì ạ ?
Xin cám ơn!
Người gửi: P. T. B

Chồng Thái Bình, vợ Hải Dương, nộp đơn ly hôn ở đâu ?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Do bạn không nói rõ, trường hợp của bạn là đơn phương ly hôn hay thuận tình ly hôn nên chúng tôi chia ra làm 2 trường hợp:

Trường hợp 1 : Bạn muốn ly hôn nhưng chồng bạn không đồng ý (Đơn phương ly hôn)

Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2014, tòa có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn của bạn là:

"a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;"

Tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự quy định

"1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;"

Như vậy, trường hợp bạn muốn ly hôn mà chồng bạn không đồng ý thì bạn phải nộp đơn tại Tòa án nơi mà chồng bạn cư trú, cụ thể là ở Thái Bình.

Trường hợp 2: Cả hai vợ chồng đều đồng ý ly hôn (Thuận tình ly hôn)

Căn cứ vào điểm h, khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì:

"Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;"

Theo Điều 12, Luật nơi cư trú 2006 sửa đổi bổ sung năm 2013 thì nơi cư trú được xác định là "chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú". Trường hợp cả hai bạn để muốn ly hôn thì bạn có thể nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nơi bạn đang cư trú, cụ thể là ở Hải Dương.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cám ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty luật Minh Khuê. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Tư vấn quyền nuôi cả 2 con của người mẹ sau khi ly hôn ?

Tôi có hai con, con trai (sn 24/12/2008) và con gái (sn 11/09/2010). Tôi và chồng tôi ly hôn và cả hai đều muốn được nuôi cả hai đứa con. Chồng tôi là người không có việc làm ổn định trong khi đó tôi là giáo viên THCS. Tôi không muốn xa bất cứ đứa con nào của tôi, tôi muốn được dành quyền nuôi hai cháu. Vậy tôi có quyền này không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!!
Người gửi: N.T.

Tư vấn quyền nuôi cả 2 con của người mẹ sau khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cụ thể như sau:

- Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan.

- Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

- Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Theo quy định nêu trên, hai vợ chồng bạn có thể thỏa thuận về người sẽ trực tiếp nuôi con: hoặc một người nuôi cả hai con hoặc mỗi bên trực tiếp nuôi một con. Nếu không thỏa thuận được thì khi yêu cầu ly hôn, bạn có thể yêu cầu tòa án quyết định việc nuôi con. Vì cả hai cháu đều trên 36 tháng tuổi nên tòa án sẽ quyết định căn cứ vào quyền lợi của con (đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần) và điều kiện thực tế của vợ chồng bạn (chỗ ở, tình hình tài chính, công việc, đạo đức, lối sống...).

Nếu bạn chứng minh được bạn có đầy đủ điều kiện để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho các con; trong khi chồng bạn không đáp ứng được những yêu cầu này thì bạn có thể yêu cầu tòa án quyết định cho bạn được nuôi cả hai con.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Khó lấy ý kiến con trẻ trên 7 tuổi khi ly hôn ?

Theo quy định, khi giải quyết án ly hôn, tòa phải hỏi ý kiến của con trẻ từ chín tuổi trở lên xem các em muốn sống với cha hay mẹ. Thủ tục bắt buộc này trên thực tế đã gặp vướng mắc khi các bậc cha mẹ không hợp tác.

Tại khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Lấy ý kiến là cần thiết

Nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng việc lấy ý kiến của con cái là cần thiết. Khi cha mẹ ly hôn, các em đã mất đi một điểm tựa quan trọng nhất là mái ấm gia đình nên rất cần hỏi ý kiến để các em nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình. Điều này cũng phù hợp với tinh thần của Điều 12 Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là quốc gia thành viên. Theo đó: Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về tất cả vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của các em được coi trọng một cách thích ứng với tuổi và độ trưởng thành của các em.

Cha mẹ không hợp tác

Thủ tục lấy ý kiến của con trẻ là bắt buộc trong giải quyết án ly hôn. Nếu thiếu thủ tục này án sẽ bị tòa cấp trên tuyên hủy. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử của ngành tòa án đã gặp nhiều vướng mắc.

Không ít tòa đau đầu vì các bậc cha mẹ không hợp tác, không đưa con cái tới để tòa lấy ý kiến của các em. Lý do chính là rất nhiều người không muốn cho con cái biết họ ly hôn, sợ các em bị tổn thương về tâm lý. Ra tòa, họ cương quyết ly hôn nhưng một, hai mong tòa xem xét không cho con cái biết.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Gặp tình huống này, tòa vẫn phải tiếp tục giải quyết án bởi nếu tòa ra quyết định đình chỉ giải quyết án dân sự với lý do không có nguyện vọng của con trẻ là không đúng. Bởi trong vụ án ly hôn, con trẻ không có tư cách tham gia tố tụng.

Một thẩm phán TAND quận 3 (TP.HCM) kể nhiều vụ do cho cha mẹ không chịu đưa trẻ đến tòa nên cán bộ tòa phải tìm đến trường học hay nơi sinh sống của trẻ lấy ý kiến. Không cán bộ tòa nào muốn làm việc này, bởi hầu hết các trẻ đều ngơ ngác, khóc lóc khi biết cha mẹ mình muốn ly hôn. Và trong tờ tường trình của trẻ đều thể hiện là muốn sống chung với cả cha lẫn mẹ. Đã có những trường hợp, một số em buồn bã, học hành sa sút, thậm chí bỏ nhà đi bụi.

Vướng mắc thứ hai mà gần đây TAND TP.HCM cũng gặp phải là trường hợp cha mẹ ly hôn, có tranh chấp nuôi con trên chín tuổi nhưng tại thời điểm tranh chấp, con lại đang đi học ở nước ngoài. Gặp tình huống này, tòa lúng túng, không biết có cần phải thực hiện ủy thác tư pháp để xem xét nguyện vọng của con hay không vì luật không hướng dẫn…

Chỉ để tham khảo?

Điều mà các thẩm phán băn khoăn là luật bắt buộc phải lấy ý kiến của con trẻ trong khi điều này thực chất cũng chỉ mang tính tham khảo.

Tòa sẽ xem xét các điều kiện về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như tình cảm, đạo đức, phương pháp nuôi dạy… để lựa chọn người nuôi con, bảo đảm sự phát triển tốt nhất cho trẻ. Khi xem xét để ra quyết định giao trẻ cho cha hay mẹ, tòa vẫn thường dựa trên thỏa thuận của họ là chính. Chưa kể, như thực tế đã nêu ra, việc lấy ý kiến nguyện vọng của trẻ nhiều trường hợp lại có thể gây tổn thương đến tinh thần của trẻ. Vì thế một thẩm phán chuyên giải quyết án ly hôn đề xuất nên sửa luật theo hướng hạn chế, giới hạn việc lấy ý kiến nguyện vọng của trẻ.

Theo thẩm phán này, chỉ trong những trường hợp tranh chấp về quyền nuôi con mà qua thu thập chứng cứ, tòa xét thấy giao đứa trẻ cho bên nào cũng được thì mới bắt buộc phải thực hiện việc lấy ý kiến của trẻ. Việc thu thập chứng cứ nên tiến hành bằng cách xác minh thông qua ban giám hiệu, hội phụ nữ, tổ trưởng dân phố và nơi làm việc của vợ chồng… để tránh việc trẻ bị tổn thương khi biết cha mẹ sắp ly hôn.

Một thư ký tòa kể một người mẹ chở con đến tòa sau giờ tan học để hoàn thành thủ tục lấy ý kiến nguyện vọng của con trong vụ ly hôn của bà với chồng. Tại tòa, thẩm phán khuyên trẻ nên thực lòng viết ra những gì mình mong muốn, còn người mẹ lại ra sức ngồi bắt con viết theo ý mình là chỉ muốn sống chung với mẹ. Một lúc sau, đứa trẻ hoảng loạn, không những không viết được mà còn bật khóc và bỏ chạy ra đường, suýt chút nữa thì bị xe đụng…

Nên bỏ hẳn

Thủ tục buộc đưa trẻ từ chín tuổi trở lên đến tòa làm bản tường trình để biết nguyện vọng trẻ muốn sống chung với cha hay mẹ sau khi ly hôn cần được loại bỏ. Bởi lý do khiến đứa trẻ muốn sống với ai thường rất cảm tính. Thực tế không phải cứ yêu thương nhiều là có thể đáp ứng được điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện như mục đích mà Luật Hôn nhân và Gia đình hướng đến. Hơn nữa, việc này gây chấn thương tâm lý không thể nào bù đắp được cho trẻ. Với một quyết định đi theo trẻ suốt đời có ảnh hưởng rất sâu đậm. Nếu mai này có một sự kiện nào xảy ra khiến trẻ ân hận hay oán trách về quyết định ngày đó, có phải sẽ là chấn thương tâm lý đối với trẻ hay không?

Theo tôi, trong trường hợp cần thiết, tòa có thể lấy nguyện vọng của trẻ một cách nhẹ nhàng thông qua những người thân, thầy cô giáo. Đừng bắt buộc trẻ đến tòa làm bản tường trình như hiện nay sẽ gây ảnh hưởng tâm lý nặng nề cho trẻ thơ.

Luật sư PHẠM TẤT THẮNG, Đoàn Luật sư TP.HCM

Cần có hướng dẫn riêng

Trẻ từ chín tuổi trở lên đã bắt đầu nhận thức được sự yêu thương người lớn dành cho mình nên đặt ra tiêu chí phải lấy nguyện vọng của trẻ khi giải quyết án ly hôn là cần thiết. Đây là một tiêu chí quan trọng để dựa trên đó, tòa có thể đánh giá một cách toàn diện về việc quyết định giao trẻ cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.

Vấn đề đặt ra là cách lấy nguyện vọng của trẻ như thế nào để tránh cho trẻ khỏi bị tổn thương. Theo tôi, TAND Tối cao nên có hướng dẫn cụ thể, không nhất thiết cứ phải triệu tập trẻ đến tòa lập biên bản trong không khí ngột ngạt, căng thẳng giữa cha và mẹ. Sức ép về tâm lý sẽ tạo nên nỗi ám ảnh khôn nguôi trong lòng trẻ thơ.

Luật gia ĐẶNG ĐÌNH THỊNH,
Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật – Hội Luật gia Việt Nam

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?