1. Tư vấn thủ tục thu hồi đất rừng phòng hộ làm thủy điện ?

Thưa luật sư, Em có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Hiện em đang làm bên GPMB của dự án thủy điện. Liên quan đến thu hồi đất rừng phòng hộ. Em muốn nhờ bên Công ty tư vấn giúp ạ.

Em muốn hỏi là hiện bên em phải thu hồi 40ha đất rừng phòng hộ. Theo thông tư 49/2010/QH12 của Quốc Hội thì thu hồi từ 50ha đất rừng phòng hộ trở lên phải báo cáo lên Quốc Hội. Nhưng bên Em thu hồi 40ha thì không biết là có quy định nào và theo trình tự như thế nào. Liệu phải báo cáo lên Chính phủ không ạ?

Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

Người gửi: Nguyen Hong

>> Tư vấn thu hồi đất rừng phòng hộ gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 62 Luật Đất đai của Quốc hội, số 45/2013/QH13:

“Điều 62. Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau đây:

1. Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;

2. Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm:

a) Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);

b) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia;

c) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;

3. Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm:

a) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương;

b) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải;

c) Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;

d) Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;

đ) Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản.”

Căn cứ Điều 63 Luật đất đai năm 2013:

“Điều 63. Căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau đây:

1. Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật này;

2. Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

3. Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án.”

Như vậy theo như thông tin bạn cung cấp thì việc thu hồi đất là để xây dựng dự án thủy điện thì việc thu hồi đất này vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 62 Luật đất đai năm 2013.

Trình tự, thủ tục thu hồi đất:

Căn cứ Điều 70 Luật đất đai năm 2013:

“Điều 69. Trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm được quy định như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất.

Thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;

b) Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm;

c) Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

d) Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được vận động, thuyết phục mà người sử dụng đất vẫn không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc. Người có đất thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc. Trường hợp người có đất thu hồi không chấp hành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện cưỡng chế theo quy định tại Điều 70 của Luật này.

2. Lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau:

a) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.

Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi.

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền;

b) Cơ quan có thẩm quyền thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất.

3. Việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày;

b) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có) và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;

c) Tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt;

d) Trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện.

Trường hợp người có đất thu hồi đã được vận động, thuyết phục nhưng không chấp hành việc bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 của Luật này.

4. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm quản lý đất đã được giải phóng mặt bằng.”

Như vậy theo quy định trên thì để tiến hành việc thu hồi diện tích đất trên thì:

Bước 1: Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm

Bước 2: Lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau

Bước 3: Quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất ? Hướng dẫn chính sách đền bù khi bị thu hồi đất đai ?

2. Tư vấn mức giá đền bù đất hoang hóa ven bờ sông thi bị thu hồi ?

Em chào luật sư ạ, Luật sư cho em hỏi là gia đình em có thầu khoảng gầm 1 mẫu đất ven bờ sông, từ năm 1993, lúc đó đất ở đó vẫn còn hoang hóa, sau đó gia đình em khai hoang phục hóa, rồi thầu lại với xã với thời hạn 20 năm, phần đất đó nhà em trồng cây ăn quả nâu năm.

Cho tới năm 2013, là đáo hạn hợp đồng, trong hợp đồng ký vào năm 1993 có nội dung như sau ạ 1: đến mùa thu hoạch , xã và gia đình sẽ kiểm đếm sản lượng, sau khi bán thì sẽ chia đôi , xã 1 nửa, gia đình 1 nửa, nêu không có sản lượng thì thôi 2: ĐẾN KHI THANH LÝ HỢP ĐỒNG , TÀI SẢN TRÊN ĐẤT SẼ DC THANH LÝ THEO GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG TỰ DO TẠI THỜI ĐIỂM THANH LÝ, và tài sản cũng chia đôi cho xã 1 nửa và gia đình 1 nửa cho tới nay xã vẫn chưa thanh lý hợp đồng cho gia đình em, cũng có vài lần gia đình dc xã mời gia thanh lý hợp đồng, dựa vào nội dung thứ 2 trong hợp đồng, do là cây trồng nâu năm bây giờ mới cho năng xuất cho nên gia đình e đòi 10tr 1 cây (cây nhãn), nhưng UBND xã k đồng ý , và chỉ trả 1 triệu đồng trên 1 cây, do vậy gia đình e không đồng ý với mức giá đó.

Gia đình em yêu cầu thầu lại với kỳ hạn 20 năm nhưng xã không đồng ý và chỉ cho thầu 5 năm với thời hạn như vậy cho cây nâu năm , gia đình e nhất quyết không đồng ý mới đây xã đã có biều hiện đưa an ninh xã vào cuộc cưỡng chế nhưng không thành, và cho lý do là sẽ cho thầu trắng , tức là gia đình e phải chặt hết cây. Vậy mong luật sư giải đáp giúp em là với nội dung số 2 trong hợp đồng như vậy thì gia đình em làm như vậy có đúng không ạ, và phía UBND xã làm vậy đúng hay sai ạ và xin ý kiến từ các luật sư để gia đình e giải quyết hợp tình hợp lý ạ. và nếu gia đình em muốn thầu từ 20-30 theo luật đất đai mới hiện nay thì gia đình em cần làm gì ạ, cơ quan nào có thẩm quyền ký với thời hạn trên ạ.

Em xin cám ơn các luật sư!

Trả lời:

Thứ nhất, theo thông tin mà bạn cung cấp UBND xã thanh lý tài sản trên đất khi hết thời hạn thuê đất mà thu hồit thì theo quy định tại Khoản 1 Điều 90 Luật đất đai năm 2013 như sau:

Điều 90. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi.

1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;

b) Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;

c) Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;

d) Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

Theo đó, số tiền bồi thường đối với số cây lâu năm trên diện tích đất mà bạn đã thầu với xã sẽ được tính trên giá trị hiện có của vườn cây theo giá thực tế tại địa phương vào thời điểm thu hồi đất như quy định trên. Nếu bạn thấy giá thanh lý cây phù hợp theo quy định trên thì xã giải quyết như vậy là đúng, trường hợp mà thấp hơn thì có thể đề nghị xã xem xét lại mức bồi thường theo quy định trên.

Thứ hai, gia đình bạn yêu cầu thầu lại với kỳ hạn 20 năm nhưng xã không đồng ý và chỉ cho thầu 5 năm với thời hạn như vậy cho cây lâu năm là đúng. Vì xét về bản chất đất đấu thầu trong trường hợp này chính là quỹ đất 5% mà các địa phương được cho thuê, bạn xác định có chính xác về phần đất mà gia đình bạn thuê có thuộc quỹ đất công ích của xã hay không thì theo quy định tại khoản 2 Điều 126 luật đất đai 2013 quy định như sau:

"Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm. Khi hết thời hạn thuê đất, hộ gia đình, cá nhân nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét tiếp tục cho thuê đất.”

Nếu như diện tích đất thuộc quỹ đất công ích do UBND xã quản lý thì thời hạn sử dụng đất nếu trúng thầu là không quá 05 năm theo quy định tại khoản 5 Điều 126 : “Thời hạn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn là không quá 05 năm.”

Và theo khoản 2 Điều 132 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai quy định đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích như sau:

"3. Đối với diện tích đất chưa sử dụng vào các mục đích quy định tại khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp xã cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương thuê để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo hình thức đấu giá để cho thuê. Thời hạn sử dụng đất đối với mỗi lần thuê không quá 05 năm.

Tiền thu được từ việc cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích phải nộp vào ngân sách nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý và chỉ được dùng cho nhu cầu công ích của xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật."

Như vậy, theo hình thức đấu giá để cho thuê thì mỗi lần thuê thì UBND xã chỉ cho thuê không quá 05 năm.

Thứ ba, nếu gia đình bạn muốn thầu với thời hạn từ 20 - 30 năm thì lúc này UBND xã sẽ không có thẩm quyền cho thuê đất mà chỉ cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn và chỉ cho phép được thuê với thời hạn không quá 05 năm như quy định trên. Nên theo quy định tại khoản 2 Điều 59 luật Đất đai 2013 như sau:

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định;

b) Giao đất đối với cộng đồng dân cư.

Và tại khoản 2 Điều 126 quy định về thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân như sau :"Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm. Khi hết thời hạn thuê đất, hộ gia đình, cá nhân nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét tiếp tục cho thuê đất" .Như vậy thẩm quyền lúc này sẽ được UBND cấp huyện quyết định về thời hạn cho thuê đất với gia đình. Theo đó gia đình bạn cần phải tìm hiều những vấn đề sau:

Căn cứ vào điểm d khoản 1 điều 179 và điểm d khoản 2 điều 179 Luật đất đai 2013 quy định cụ thể như sau:

" Điều 179. Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức; đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

d) Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất;

2. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

d) Cho thuê tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê theo quy định của pháp luật về dân sự; "

Như vậy bạn cần phải xem xét đất của bạn thuê là trả tiền sử dụng đất một lần cho cả thời gian thuê, hay là cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm.

- Nếu bạn thuê đất trả tiền sử dụng đất một lần cho cả thời gian thuê thì bạn sẽ được cho thuê lại quyền sử dụng đất của mình.

- Nếu bạn thuê đất mà thu tiền thuê đất hằng năm thì bạn sẽ chỉ được cho thuê lại tài sản thuộc quyền sở hữu của bạn gắn liền với đất.

Thủ tục thuê lại quyền sử dụng đất.

Căn cứ theo quy định tại điều 80 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai 2013 quy định cụ thể như sau:

"Điều 80. Trình tự, thủ tục xóa đăng ký cho thuê, cho thuê lại, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

1. Môt trong các bên ký hợp đồng thuê, thuê lại, hợp đồng góp vốn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, nộp một bộ hồ sơ xóa đăng ký cho thuê, cho thuê lại; góp vốn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

2. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu phù hợp quy định của pháp luật thì thực hiện các công việc sau:

a) Xác nhận việc xóa cho thuê, cho thuê lại, xóa góp vốn vào Giấy chứng nhận theo quy định và trao cho bên cho thuê, cho thuê lại, bên góp vốn. Trường hợp cho thuê, cho thuê lại đất trong khu công nghiệp và trường hợp góp vốn quyền sử dụng đất mà đã cấp Giấy chứng nhận cho bên thuê, thuê lại đất, bên nhận góp vốn thì thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp; bên nhận góp vốn được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trường hợp thời hạn sử dụng đất kết thúc cùng với thời điểm xóa cho thuê, cho thuê lại đất, xóa góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất hoặc không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng đất thì thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp;

b) Thực hiện việc xóa đăng ký cho thuê, cho thuê lại, xóa góp vốn vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai."

Trước khi bạn nộp hồ sơ lên văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thì bạn cần làm hợp đồng cho thuê lại quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất tại phòng hoặc văn phòng công chứng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thời hạn của loại đất quy định trong bảng giá đất ? Quy định về mua bán các loại đất

3. Đất thu hồi không được bồi thường giá trị đất ?

Thưa Luật sư! Năm 1996 gia đình tui mua 1 mảnh đất ở sân kho của hợp tác xã đến thời điểm thu hồi gia đình đã ở và bán hàng 18 năm,không tranh chấp không xử phạt hành chính, trong qua trình làm mất giấy tờ nhưng cũng đã xin lại chứng thực đã nộp tiền và 1 bản viết tay với trưởng thôn năm 1996 là mua đất thời hạn lâu dài .
Đến năm 2014 xã thu hồi đất để làm cổng trường đi qua, chỉ bồi thường 80% giá trị trên đất nhưng gia đình không nhận tiền, không bồi thường gia trị đất và không có quyết định thu hồi đất của thành phố, lí do là cho rằng đất thuê 10 năm qua cuộc họp đảng dân chính năm 2013 chỉ duy nhất bí thư năm 1996 đi họp, là đất chuyên dùng trên thực tế sau khi cưỡng chế tài sản trên đất gia đình xin bản đồ thì mới biết đã hợp thức năm 2007 là đất ở nông thôn kí hiệu ONT.
Trong quá trình thu tài sản gia đình tui không đươc mời để kí chỉ có chữ kí của những người làm chứng, của xã không có chữ ký của viện kiểm sát và gia đình mặc dù có mặt, sau này trả tài sản thấy thiếu đồ gia đình tui không nhận trong biên bản thu tài sản không ghi ngày tháng năm có ghi quay video nhưng gia đình tui đòi xem lại thì không cho xem. Từ những dữ liệu trên kính mong luật sư cho gia đình tui lời khuyên ?
Xin chân thành cảm ơn, Luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai: 1900.6162

Trả lời:

Như bạn đã trình trong quá trình thu hồi đất thì cơ quan có thẩm quyền chỉ bồi thường 80% giá trị trên đất nhưng gia đình ko nhận tiền,ko bồi thường gia trị đất và ko có quyết định thu hồi đất của thành phố,lí do là cho rằng đất thuê 10 năm qua cuộc họp đảng dân chính năm 2013 chỉ duy nhất bí thư năm 1996 đi họp,là đất chuyên dùng . Nên cần phải xem xét tính hợp pháp của việc thu hồi đất của gia đình bạn.

Thứ nhất: Xét về thẩm quyền thu hồi đất thì:

Theo quy định tại điểm a, khoản 2 điều 66 Luật đất đai 2013 .

Điều 66. Thẩm quyền thu hồi đất

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

Như vậy, thẩm quyền thu hồi đất đối với trường hợp của gia đình bạn là thuộc vê Ủy ban nhân cấp huyện. Ủy ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền thu hồi mà Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ có trách nhiệm phối hợp với tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo dạc, kiểm đếm.

Thứ hai, Xét lý do không bồi thường giá trị đất của cơ quan có thẩm quyền:

Theo quy định tại điều 82 Luật đất đai 2013 thì trường hợp thu hồi đất mà không được bồi thường về đất là:

Điều 82. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất

Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;

2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;

3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;

4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này.

Như bạn đã đề cập thì "trong qua trình làm mất giấy tờ nhưng cũng đã xin lại chứng thực đã nộp tiền và 1 bản viết tay với trưởng thôn năm 1996 là mua đất thời hạn lâu dài". Như vậy, khi bạn mua lại đất của hợp tác xã thì bạn vẫn chưa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà mới chỉ chứng thực giấy chuyển nhượng đất. Nên trường hợp của bạn phải thuộc trường hợp được cấp sổ đỏ thì khi nhà nước thu hồi đất thì mới được bồi thường về đất. Một trong những trường hợp được cấp giấy chứng nhận được quy định tại khoản 2, điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.

Điều 20. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác trong thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có tranh chấp sử dụng đất; phù hợp với quy hoạch hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đất đã sử dụng từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch; chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp phải thu hồi thì được công nhận quyền sử dụng đất

Đối chiếu với quy định trên cùng với những tình tiết mà bạn đã đề cập thì mặc dù gia đình bạn sử dụng đất có ở nhà ở từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2004 và đất bạn sử dụng không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch ( do trong bản đồ đất này được xác định là đất ở nông thôn). Tuy nhiên, trường hợp của bạn đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp phải thu hồi. Nên trường hợp của bạn sẽ không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy trường hợp của bạn sẽ không được bồi thường về đất do thuộc vào trường hợp quy định tại khoản 4, điều 82 Luật đất đai 2013. Tuy nhiên thì gia đình bạn sẽ vẫn được bồi thường về tài sản trên đất căn cứ vào quy định tại khoản 1, điều 89 Luật đất đai 2013.

Điều 89. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.

Như vậy, Nhà nước sẽ phải bồi thường cho bạn giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương. Như vậy, bạn được bồi thường giá trị trên đất sẽ dựa vào giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương chứ không căn cứ vào giá trị tài sản trên đất.

Thứ ba, xét đến cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất:

Theo quy định của pháp luật đất đat, cụ thể tại điểm c, khoản 4, điều 71 Luật đất đai 2013 thì khi bạn không chấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền, quyết định cưỡng chế thi hành đã được niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã và bạn đã nhận được quyết định cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành thì cơ quan có thẩm quyền có thể thực hiện:

Điều 71. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

4. Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất:

c) Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế.

Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì Ban thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản.

Như vậy, từ quy định trên thì cơ quan có thẩm quyền chỉ có quyền di chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế chứ không có quyền thu tài sản của bạn. Qua những phân tích trên, thì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể khiếu nại phương án bồi thường. Trong trường hợp quyết định thu hồi đất do Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành thì gia đình bạn sẽ khiếu nại về quyết định thu hồi đất và khiếu nại về việc thu tài sản. Nếu khiếu nại thì gia đình bạn có thể khiếu nại tới cơ quan nhà nước của người trực tiếp ra những quyết định trên hoặc cấp trên trực tiếp.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email:Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Tư vấn cách tính thuế xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật

4. Các trường hợp thu hồi không được bồi thường về đất ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có chút vấn đề về việc bồi thường về đất mong luật sư tư vấn cho em những trường hợp nhà nước thu hồi mà không được bồi thường về đất với ạ ?
Em xin cảm ơn!

Các trường hợp thu hồi không được bồi thường về đất.

Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 82 Luật Đất đai năm 2013 Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật Đất đai

Bao gồm:

a) Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật đất đai;

b) Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;

c) Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;

d) Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

đ) Đất nhận khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;

3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật đất đai

Điều 64 gồm các trường hợp sau:

a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

c) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

d) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật đất đai mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

đ) Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

e) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

g) Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

h) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;

i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

Điều 65 gồm các trường hợp sau:

a) Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;

b) Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

c) Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

d) Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn;


4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này

Trừ trường hợp sau:

Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi gây thiệt hại về tinh thần thì sẽ phải bồi thường ra sao ?

5. Hợp đồng mua bán đất đai không công chứng có thể sẽ bị thu hồi ?

Thưa Luật sư, tôi có ký kết một hợp đồng chuyển nhượng đất đai năm 2018, nhưng hợp đồng của tôi không được công chứng, chứng thực, chỉ được viết tay giữa các bên. Vậy Luật sư cho tôi hỏi hợp đồng đó của tôi có giá trị pháp lý không? và có vấn đề gì trong hợp đồng của tôi không?
Mong Luật sư tư vấn cho tôi. Cám ơn Luật sư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

- Thứ nhất là điều kiện để thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai 2013 có quy định cụ thể như sau:

Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất.
2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.
3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.
- Thứ hai là về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được công chứng, chứng thực theo quy định tại Điều 167 Luật Đất đai 2013 có quy định cụ thể như sau:
Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất
1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.
2. Nhóm người sử dụng đất mà có chung quyền sử dụng đất thì có các quyền và nghĩa vụ như sau:
a) Nhóm người sử dụng đất gồm hộ gia đình, cá nhân thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật này.
Trường hợp trong nhóm người sử dụng đất có thành viên là tổ chức kinh tế thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế theo quy định của Luật này;
b) Trường hợp nhóm người sử dụng đất mà quyền sử dụng đất phân chia được theo phần cho từng thành viên trong nhóm, nếu từng thành viên của nhóm muốn thực hiện quyền đối với phần quyền sử dụng đất của mình thì phải thực hiện thủ tục tách thửa theo quy định, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và được thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của Luật này.
Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm người sử dụng đất không phân chia được theo phần thì ủy quyền cho người đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất.
3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;
b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;
c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;
d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
- Thứ ba là hợp đồng của bạn bị vô hiệu thì đất của bạn có bị thu hồi?
Theo quy định tại Điều 16 Luật Đất Đai 2013 có quy định cụ thể về những trường hợp bị thu hồi đất, bao gồm những trường hợp sau:
Điều 16. Nhà nước quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất
1. Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;
b) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;
c) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.
2. Nhà nước quyết định trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.
Bên cạnh đó điều 131 Bộ Luật dân sự 2015 cũng có quy định cụ thể như sau:
Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

Như vậy, có nghĩa là trường hợp này của bạn, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bạn ký kết năm 2018 mà khong được công chứng, chứng thực thì không có hiệu lực, khi đó, đát của bạn mua sẽ khong bị thu hồi mà hợp đồng đó ký kết nó bị vô hiệu, nó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền sử dụng đất ở khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?