Trong tháng vừa qua tôi đã vượt doanh số và đã tính hoa hồng ở mức 40%. Nhưng khi tính lương thì giám đốc nói trừ 10% VAT. Tôi nói nếu trừ VAT thì phải cho xem hóa đơn, nhưng công ty không chứng minh được. Vì thực tế nếu bán bất động sản của 1 dự án thì đóng VAT là có, và nhân viên phải chấp nhận. Nhưng khi công ty nhận những sản phẩm ký gửi bên ngoài thì phần doanh thu của công ty không được hạch toán, nên không thể nộp thuế thì không thể trừ vào hoa hồng nhân viên khoản 10% này được. Nhưng công ty cho rằng, phía công ty có quyền ra quyết định trừ 10% VAT này là quyền của công ty. Vậy công ty nói như vậy là đúng hay sai?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: H.M

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật thuế của Công ty Luật Minh Khuê. 

Tư vấn tính tiền lương và tiền hoa hồng ? 

Luật sư tư vấn pháp luật thuế gọi: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của chị. Cảm ơn chị đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của chị chúng tôi giải đáp như sau:

 

Căn cứ pháp lý

>> Xem thêm:  Điều kiện được đặc cách xét vào biên chế của viên chức?

Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành luật thuế giá trị gia tăng và nghị định 209/2013/NĐ-CP của Chính Phủ hướng dẫn chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế giá trị gia tăng.

Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện luật thuế thu nhập cá nhân, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế thu nhập cá nhân và nghị định 65/2013/NĐ-CP của Chính Phủ.

Nội dung

Căn cứ vào đoạn đầu tiên của điều 3, thông tư 219/2013/TT-BTC quy định người có nghĩa vụ nộp thuế GTGT là:

"Điều 3. Người nộp thuế

Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (sau đây gọi là người nhập khẩu) ..."

Như vậy đối tượng chịu thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam. Trong trường hợp này công ty chị kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản, đây là loại hình dịch vụ phải chịu thuế GTGT nên người nộp thuế sẽ là công ty chị chứ không phải là nhân viên. Nên công ty chị khấu trừ 10% VAT trên phần tiền hoa hồng của chị là không đúng với quy định của pháp luật. 

Giá tính thuế trong trường hợp công ty chị là công ty  kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản đươc quy định tại khoản 11, điều 7 của thông tư 219/2013/TT-BTC.

"Điều 7.Giá tính thuế

11. Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hóa và dịch vụ, ủy thác xuất nhập khẩu hưởng tiền công hoặc tiền hoa hồng, giá tính thuế là tiền công, tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế GTGT."

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký nội quy, thang bảng lương lao động mới nhất năm 2020 ?

Tuy nhiên, chị sẽ phải nộp thuế thu nhập các nhân trên phần tiền lương, tiền công của chị theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 2, thông tư 111/2013/TT-BTC.

"Điều 2. Các khoản thu nhập chịu thuế

2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công

Thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, bao gồm:

a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền".

c) Tiền thù lao nhận được dưới các hình thức như: tiền hoa hồng đại lý bán hàng hóa, tiền hoa hồng môi giới; tiền tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, kỹ thuật; tiền tham gia các dự án, đề án; tiền nhuận bút theo quy định của pháp luật về chế độ nhuận bút; tiền tham gia các hoạt động giảng dạy; tiền tham gia biểu diễn văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao; tiền dịch vụ quảng cáo; tiền dịch vụ khác, thù lao khác.

Bên cạnh đấy, tại quy định tại quy định tại điểm i, khoản 1 điều 25 của thông tư 111/2013/TT-BTC quy định về khấu trừ thuế và các chứng từ khấu trừ thuế như sau:

"Điều 25. Khấu trừ thuế và các chứng từ khấu trừ thuế.

1. Khấu trừ thuế 

i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Căn cứ vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết".

Căn cứ vào quy định trên nếu như chị chưa ký hợp đồng lao động  hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba tháng thì chị sẽ bị khấu trừ 10% trên thu nhập trước khi người sử dụng lao động trả cho chị và chị không được giảm trừ gia cảnh. Còn nếu như chị ký kết hợp đồng lao động trên từ ba tháng trở lên thì chị sẽ được giảm trừ gia cảnh, sau khi giảm trừ gia cảnh xong thì số tiền còn lại mới là thu nhập tính thuế và chị sẽ bị khấu trừ thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần. Theo quy định tại điều 9 điếm a, điểm b khoản 1 thông tư 111/2013/TT-BTC có hướng dẫn cụ thể về các khoản miễn trừ gia cảnh như sau:

"Điều 9. Các khoản giảm trừ

Các khoản giảm trừ theo hướng dẫn tại Điều này là các khoản được trừ vào thu nhập chịu thuế của cá nhân trước khi xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh. Cụ thể như sau:

1. Giảm trừ gia cảnh

Theo quy định tại Điều 19 Luật Thuế thu nhập cá nhân; khoản 4, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân; Điều 12 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, việc giảm trừ gia cảnh được thực hiện như sau:

a) Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú.

Trường hợp cá nhân cư trú vừa có thu nhập từ kinh doanh, vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công thì tính giảm trừ gia cảnh một lần vào tổng thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công.

b) Mức giảm trừ gia cảnh

b.1) Đối với người nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng, 108 triệu đồng/năm.

b.2) Đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng".

Như vậy, nếu như công ty mà khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân của chị trong trường hợp chị không có hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động dưới 3 tháng thì công ty đã làm đúng theo quy định của pháp luật. Còn nếu như công ty mà tính10% VAT đối với thu nhập của chị là sai với quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT THUẾ

 

>> Xem thêm:  Người lao động xin nghỉ việc có phải bồi thường chi phí đào tạo cho công ty không ?