1. Có cần thiết học và thi chứng chỉ ngoại ngữ không ?

Thưa luật sư, Tôi hiện học xong chương trình liên thông đại học của trường ĐH Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh. Được xét tốt nghiệp nhưng bị giam bằng với lý do không có chứng chỉ tin học B và ngoại ngữ C của trường. Tôi đã có bằng tin học của trường Đại học khoa học tự nhiên và cũng có bằng C của trường đại học công nghiệp thực phẩm. Khi lấy bằng tốt nghiệp thì không cho vì tin học không phải trường cấp. Nhà trườngcó cần đòi phải làm hồ sơ đóng tiền thi test, và đợi đủ người mới test. Tôi hỏi tại sao lại vậy thì trường trả lời làm theo quy định của Bộ. Tôi muốn biết có quy định nào về pháp luật quy định bằng do trường được Bộ cấp phép mà bằng lại không có giá trị. Vậy bằng của trường nào chỉ sử dụng trong trường đó thôi sao?

Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Luật Giáo dục năm 2005 quy định:

Điều 8. Văn bằng, chứng chỉ

1. Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp cấp học hoặc trình độ đào tạo theo quy định của Luật này.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục đăng ký thành lập trung tâm ngoại ngữ cho trẻ em?

Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ.

2. Chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học để xác nhận kết quả học tập sau khi được đào tạo hoặc bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp.

Điều 41. Chương trình, giáo trình giáo dục đại học

1. Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác.

Trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định ngành về chương trình giáo dục đại học, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ đại học bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, thực tập. Căn cứ vào chương trình khung trường đại học xác định chương trình giáo dục của trường mình.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về khối lượng kiến thức, kết cấu chương trình, luận văn, luận án đối với đào tạo trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.

Theo Điều 12 Nghị định 75/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dụcNghị định số 31/2011/NĐ-CP của Chính phủ : Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục quy định:

Điều 12. Văn bằng, chứng chỉ

"1. Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp một cấp học hoặc một trình độ đào tạo; chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi được hoàn thành một khóa hoặc một chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao học vấn, nghề nghiệp.

Văn bằng, chứng chỉ phải phản ánh đúng yêu cầu của chương trình giáo dục và trình độ của người học.

2. Quản lý văn bằng, chứng chỉ phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

a) Hệ thống văn bằng, chứng chỉ phải được quản lý thống nhất và thực hiện phân cấp quản lý nhà nước; bảo đảm quyền và trách nhiệm của cơ sở giáo dục, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế;

b) Ngăn chặn và xử lý nghiêm minh mọi hành vi gian lận trong cấp phát và sử dụng văn bằng, chứng chỉ.

3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo thẩm quyền, quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục cấp văn bằng, chứng chỉ; quy định về mẫu văn bằng, chứng chỉ; quy định về việc in và quản lý cấp phát, thu hồi, huỷ bỏ văn bằng, chứng chỉ. "

Như vậy, theo quy định, thì các trường đại học được xây dựng chương trình đào tạo và được Bộ giáo dục đào tạo thẩm định. Việc trường quy định có được sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ, hay chứng chỉ tin học của các trường khác hay không thì được quy định trong chương trình đào tạo của trường. Do vậy, bạn phải theo quy định chương trình học của chính trường bạn đang theo để xác định có được sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ của trường khác không? Vì mỗi trường có chương trình đạo tạo khác nhau. Do đó, việc không sử dụng chứng chỉ của trường khác để xác định đủ điều kiện của một trường khác là phù hợp với thực tiễn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục thành lập trung tâm ngoại ngữ thực hiện như thế nào ?

2. Quy định về bãi bỏ kiểm tra và cấp chứng chỉ ngoại ngữ A, B, C

Từ 15/1/2020: Bãi bỏ quy định cấp chứng chỉ ngoại ngữ A, B, C cho các đối tượng sau:

Thông tư 20/2019/TT-BGDĐT bãi bỏ quy định về kiểm tra và cấp chứng chỉ ngoại ngữ theo chương trình giáo dục thường xuyên. Theo đó:

- Bãi bỏ các quy định về kiểm tra và cấp chứng chỉ ngoại ngữ theo chương trình giáo dục thường xuyên tại Quyết định 30/2008/QD-BGDĐT Quy định về tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, kiểm tra và cấp chứng chỉ ngoại ngữ, tin học theo chương trình giáo dục thường xuyên.

Lưu ý: Quy định tại Quyết định 30/2008/QD-BGDĐT áp dụng đối với các trung tâm giáo dục thường xuyên quy định tại Quyết định 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên; các trung tâm ngoại ngữ - tin học quy định tại Quyết định 31/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04 tháng 6 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm ngoại ngữ - tin học.

Các đối tượng sẽ được kiểm tra, cấp chứng chỉ là:

- Học viên của trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, cấp huyện; trung tâm ngoại ngữ, tin học (sau đây gọi chung là các trung tâm) quy định tại khoản 2 Điều 1 của Quy định này;

- Thí sinh tự do (bao gồm cả các đối tượng học theo hình thức tự học có hướng dẫn, học từ xa) có nhu cầu được cấp chứng chỉ ngoại ngữ, tin học.

Các đối tượng nên trên sẽ được kiểm tra, cấp chứng chỉ nếu đáp ứng đủ điều kiện về dự kiểm tra cấp chứng chỉ ngoại ngữ, tin học theo chương trình giáo dục thường xuyên dưới đây:

a) Đối với học viên của các trung tâm:

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục thành lập công ty đào tạo ca sỹ và sản xuất âm nhạc?

- Đã hoàn thành khoá học về ngoại ngữ, tin học theo chương trình giáo dục thường xuyên mà thí sinh đăng ký dự kiểm tra;

- Đạt yêu cầu trong các kỳ kiểm tra định kỳ;

- Đóng đầy đủ học phí, lệ phí.

b) Đối với thí sinh tự do:

- Có hồ sơ đăng ký dự kiểm tra hợp lệ theo quy định tại Điều 8 của Quyết định 30/2008/QD-BGDĐT

- Đóng đầy đủ lệ phí kiểm tra, lệ phí cấp chứng chỉ theo quy định.

Cũng theo nội dung tại Thông tư 20/2019/TT-BGDĐT:

+ Các chứng chỉ ngoại ngữ đã cấp theo quy định tại Quyết định 30/2008/QĐ-BGDĐT có giá trị sử dụng.

+ Các khóa đào tạo, kiểm tra và cấp chứng chỉ ngoại ngữ theo chương trình giáo dục thường xuyên đang triển khai thực hiện trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện việc đào tạo, kiểm tra và cấp chứng chỉ cho đến khi kết thúc.

>> Xem thêm:  Tư vấn thành lập công ty liên doanh và văn phòng đại diện của công ty nước ngoài tại Việt Nam ?

3. Người lao động được hưởng lương cao hơn nếu có bằng cấp, chứng chỉ nào ?

Nghị định 90/2019/NĐ-CP quy định mức lương trả cho NLĐ đã qua học nghề, đào tạo nghề phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định này.


Cụ thể, những người có bằng cấp, chứng chỉ sau đây được xác định là đã qua học nghề, đào tạo nghề:
- Chứng chỉ nghề, bằng nghề, bằng trung học chuyên nghiệp, bằng trung học nghề, bằng CĐ, chứng chỉ ĐH đại cương, bằng ĐH, bằng cử nhân, bằng cao học hoặc bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ theo quy định tại Nghị định 90-CP ngày 24/11/1993;

- Bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, bằng tốt nghiệp đào tạo nghề, bằng tốt nghiệp CĐ, bằng tốt nghiệp ĐH, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ; văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp; văn bằng giáo dục ĐH và văn bằng, chứng chỉ giáo dục thường xuyên theo quy định tại Luật Giáo dục 1998 và Luật Giáo dục 2005 ;

- Chứng chỉ theo chương trình dạy nghề thường xuyên, chứng chỉ sơ cấp nghề, bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, bằng tốt nghiệp CĐ nghề hoặc đã hoàn thành chương trình học nghề theo hợp đồng học nghề quy định tại Luật Dạy nghề ;

- Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được cấp theo Luật Việc làm ;

- Văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, CĐ; đào tạo thường xuyên và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác theo quy định tại Luật Giáo dục nghề nghiệp ;

- Bằng tốt nghiệp trình độ đào tạo của giáo dục ĐH theo quy định tại Luật Giáo dục đại học ;

- Văn bằng, chứng chỉ của cơ sở đào tạo nước ngoài;

Ngoài ra, người đã được doanh nghiệp đào tạo nghề hoặc tự học nghề và được doanh nghiệp kiểm tra, bố trí làm công việc đòi hỏi phải qua đào tạo nghề cũng được xác định là đã qua học nghề, đào tạo nghề.

Xem chi tiết mức lương tối thiểu của NLĐ đã qua học nghề, đào tạo nghề quy định tại Nghị định 90/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/01/2020.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Các bước thành lập một trung tâm bồi dưỡng kiến thức cho học sinh cấp hai?