1. Hình phạt với hành vi giết người khi chưa đủ 14 tuổi ?

Thưa quý Công ty, em họ tôi sinh năm 2003, vì có tính nóng nảy và muốn thể hiện bản thân của tuổi mới lớn nên nó có xích mích và đánh lộn với một người học cùng trường. Sự việc thật không may đã xảy ra khi nó vô ý đánh vào chỗ hiểm khiến cho đối phương mất nhiều máu, thiệt mạng ngay trên đường đi cấp cứu. Công ty có thể cho tôi biết, em họ tôi có bị Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hay không? Và trường hợp nào giết người sẽ không bị truy cứu TNHS ?
Xin cảm ơn

Tư vấn về hành vi giết người khi chưa đủ 14 tuổi và hình thức xử phạt ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về hành vi giết người, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Hành vi xâm hại đến tính mạng gây hậu quả nghiêm trọng hay dẫn đến chết người bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo từng tôi danh cụ thể mà truy cứu phù hợp theo Bộ Luật hình sự 1999 (văn bản thay thế:Bộ luật hình sự năm 2015).

Tuy nhiên, nếu em họ của bạn thuộc một trong những trường hợp sau đây thì hành vi làm chết người sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

- Làm chết người trong trường hợp chưa đủ 14 tuổi, căn cứ theo khoản 2 điều 12 Bộ luật Hình sự 1999

"Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng."

- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều kiển hành vi của mình, căn cứ theo khoản 1 điều 13 Bộ luật Hình sự 1999

Điều 13. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

- Làm chết người trong trường hợp phòng vệ chính đáng, căn cứ theo khoản 1 điều 15 Bộ luật Hình sự 1999

Điều 15. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

- Làm chết người trong tình thế cấp thiết, căn cứ theo khoản 1 điều 16 Bộ luật Hình sự 1999

Điều 16. Tình thế cấp thiết

1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Như vậy, khi em họ của bạn chưa đủ 14 tuổi thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng gia đình em họ của bạn phải có trách nhiệm bồi thường về dân sự cụ thể bồi thường thiệt hại cho người thiệt mạng do em mình gây ra

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Giết người khi chưa đủ 14 tuổi và hình thức xử phạt, Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ trực tiếp để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Tư vấn về hành vi giết người cho vay tiền ?

Thưa Luật sư: H (33 tuổi) vay của chị dâu là N 2,9 tỷ đồng để lấy vốn làm ăn. Do làm ăn thua lỗ, hạn cho vay đã hết và chị N ráo riết đòi nợ mà huy không có tiền trả, H đã dùng dao giết chết chị N để không phải trả nợ. sau khi giết chị N, H còn lục tìm trong người chị N lấy 49 triệu đồng. H phạm tội gì, mức xử phạt như thế nào?
Tôi xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Đối với hành vi này, có thể xem xét theo 2 tội quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Điều 93. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết nhiều người;
b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
c) Giết trẻ em;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Điều 133. Tội cướp tài sản
1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Đối với hành vi giết người, H có thể bị xử phạt từ 7 năm tù đến 10 năm tù (khoản 2 Điều 93). Đối với hành vi cướp tài sản, áp dụng mức phạt tù từ mười tắm năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình (khoản 4 Điều 133).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Tư vấn về hành vi giết người trong khi xảy ra xô xát ?

Thưa luật sư. Tôi cần tư vấn về vấn đề như sau: Em trai tôi cùng 2 người bạn khi đi nhậu về, trên đường về có ghé vào 1 quán bia để nhậu tiếp, khi vào đó 2 người bạn em tôi có trêu 1 cô nhân viên phục vụ quán. Trêu bằng lời nói thôi ạ, thì có một nhân viên nam ra cãi cọ và có xảy ra xô xát đánh nhau. Sau đó được chủ quán ra can ngăn thì 3 em tôi đã thôi và ngồi uống nước.

Sau đó nam thanh niên kể trên đi vào bếp và lấy 1 con dao chặt xương bản 10cm x 20cm ra lùa chém 3 em tôi. Mỗi đứa chạy 1 hướng, em trai tôi bị đuổi và chém trượt đã chạy sang quán đối diện lấy được 1 cái kéo sắt dùng cắt đồ nướng ném quay lại, ( khoảng cách khoảng 5m ) không may trúng động mạch chủ. Thanh niên kia chết trên đường đi cấp cứu vì mất máu. Thanh niên kia cao 1m85 và nặng khoảng 80kg. Em tôi thì nhỏ người cao 1m66 nặng 65kg. Sau khi sự việc sảy ra 5 giờ sau 3 em tôi ra trình diện công an. Gia đình nhà tôi đã lo tang lễ cho bị hại chu đáo. Xin luật sư cho tôi được biết mức án mà em tôi phải nhận.

Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư!

Tư vấn về tội giết người?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

* Về hành vi giết người:

Trường hợp của em bạn có hành động chống cự lại chỉ nhằm mục đích ngăn cản, chống trả lại việc bị tấn công của người đàn ông kia chứ không phải nhằm mục đích gây ra cái chết cho người đó.

Tuy nhiên hành động của em bạn lại dẫn đến hậu quả chết người. Và việc chết người này là nằm ngoài ý muốn chủ quan của em bạn, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 96 – Bộ luật hình sự 1999:

Điều 96. Tội giết người do vựơt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

1. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Giết nhiều người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm.

Như vậy, hành vi của anh bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo Điều 96 Bộ luật hình sự (Công văn 81/2002/TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải đáp các vấn đề về nghiệp vụ).

Để phân tích cụ thể hơn về hành vi này, theo Nghị quyết số 02/ HĐTP hướng dẫn các Toà án các cấp áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự 1985, trong đó tại mục II của Nghị quyết này có đề cập đến chế định phòng vệ chính đáng. Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, Toà án nhân dân tối cao cũng có chỉ thị số 07 ngày 22-12-1983 về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ. Theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì Hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ của người khác được coi là phòng vệ chính đáng khi có đầy đủ các dấu hiệu sau dây:

- Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ phải là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội;

- Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ;

- Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe doạ, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại;

- Hành vi phòng vệ phải cần thiết với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.

Cần thiết không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe doạ gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ.

Để xem xét hành vi chống trả có cần thiết hay không, có rõ ràng là quá đáng hay không, thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ như: khách thể cần bảo vệ; mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân của người xâm hại; cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ; hoàn cảnh và nơi xẩy ra sự việc v.v... Đồng thời cũng phải chú ý yếu tố tâm lý của người phải phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ.

Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và đã gây thiệt hại rõ ràng quá mức đối với hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là không cần thiết và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ngược lại, nếu hành vi chống trả là cần thiết thì đó là phòng vệ chính đáng.”

Như vậy, để xem xét trường hợp của anh bạn có phải là vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng hay hành vi cố ý gây thương tích dẫn tới hậu quả chết người thì cần phải làm rõ những yếu tố trên trong trường hợp của anh trai bạn.

Ngoài ra, anh trai bạn cũng có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự căn cứ theo Điều 46 Bộ luật hình sự như sau:

"1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Xử tội chết cho hành vi giết người ?

Chào luật sư thân mến, Em có người chú họ lấy con dao thái lan đâm người vợ cũ khi đang ngồi trong nhà an cơm nhưng ko chết người, bác sĩ thẩm định thương tích là 52%. Dc bt 2 người đã ly hôn cách đay 6 năm, nhưng ko bt lý do gì mà chú họ của em đến nhà người vợ cũ làm như vậy, theo em dc bt thì trong lúc đo chú em có uống rượu xỉn rồi,va bây giờ người vợ cũng qua khỏi nguy hiểm, bây giờ chú họ em đang bị tạm giam chờ xét sử, gia đình bên bi hại ko làm tờ bãi nại.

Để cho công an giải quyết hết. Vậy luật cho em bt là chú họ của sẽ bị sử với mức án nào ? Cảm ơn luật sư.

- Thanhlien

Xử tội chết cho hành vi giết người ?

Luật sư trả lời:

Tội giết người được quy định, hướng dẫn tại Bộ luật hình sự năm 2015 ngày 27 tháng 11 năm 2015, cụ thể như sau:

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, chú bạn sẽ có thể phải đối diện với mức án tại khoản 2 của tội phạm này.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê