1. Tư vấn về tranh chấp trong hợp đồng tư vấn thiết kế ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Công ty tôi có ký một hợp đồng tư vấn thiết kế với nhà thầu A, trong hợp đồng có quy định chính về Bond như sau:

1. Performance Bond.

- Giá trị: 10% giá trị hợp đồng;

- Thời hạn hiệu lực: đến 30 ngày sau khi bàn giao;

- Trả BP: khi nhà thầu mở Warrranty Bond.

2. Warranty Bond:

- Giá trị: 5% giá trị hợp đồng;

- Thời gian đệ trình: trong vòng 15 ngày sau khi bàn giao;

- Thời hạn hiệu lực: 24 tháng sau khi bàn giao;

Hiện tại, Công ty tôi và Công ty A đang tiến hành chấm dứt hợp đồng, do điều kiện khách quan không phải do lỗi của bên nào cả. Đến thời điểm chấm dứt, bên tôi đã thanh toán cho Công ty A 50% giá trị hợp đồng. Công ty A đòi bên công ty tôi phải trả lại Performance Bond.

Như vậy, tôi muốn hỏi là:

1. Khi chấm dứt hợp đồng giữa chừng như vậy, công việc mà đã phải thanh toán có được bảo hành hay không?

2. Mình có thể vẫn giữ Performance Bond hoặc yêu cầu mở Warranty Bond để đảm bảo nghĩa vụ bảo hành không?.

3. Có văn bản luật nào quy định cụ thể về vấn đề này không (tôi có nghiên cứu NĐ 48, Luật XD...nhưng vẫn chữa rõ về vấn đề này). Các nội dung mà tôi hỏi không được quy định cụ thể trong hợp đồng và hầu như nhà thầu không đồng ý với đề xuất của tôi ?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.Kính thư!

Người gửi: Kien Tran

Trả lời:

Chào bạn! Với câu hỏi của bạn, Công ty Luật Minh Khuê xin giải đáp như sau:

Theo như những thong tin mà bạn đã cung cấp cho chúng tôi, có thể thấy rằng hợp đồng thiết kế của Nhà thầu và công ty A không thực hiện được vì lý do khách quan mà không thuộc lỗi của bất cứ bên nào. Vì vậy, hợp đồng của hai bên chấm dứt theo trường hợp tại điều 422 và Điều 414 Luật Dân sự năm 2015). Theo đó: Điều 414 quy định về việc: Không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không do lỗi của các bên:

Điều 414. Không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không do lỗi của các bên

Trong hợp đồng song vụ, nếu một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà các bên đều không có lỗi thì bên không thực hiện được nghĩa vụ không có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trường hợp một bên đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên kia thực hiện phần nghĩa vụ tương ứng đối với mình.

Vì vậy, đến thời điểm chấm dứt, bên bạn đã thanh toán cho Công ty A 50% giá trị hợp đồng. Thì bạn có quyền nhận những nghĩa vụ tương tương đối với khoản 50% giá trị hợp đồng. Trường hợp 50% bạn đã thanh toán mà không tương xứng với Performance Bond thì bạn phải hoàn trả. Và phần nghĩa vụ đã thực hiện với nhau vẫn được bảo hành theo theo thuẩn trong hợp đồng ban đầu.

"Mình có thể vẫn giữ Performance Bond hoặc yêu cầu mở Warranty Bond để đảm bảo nghĩa vụ bảo hành không?" Đây là yêu cầu mới phát sinh mà không được dự liệu trước trong hợp đồng. Nếu bạn muốn thỏa mãn yêu cầu trên chỉ có thể hai bên cũng thỏa thuận và phụ thuộc ý chí hai bên. Và thỏa thuận mới này là một hợp đồng bảo đảm.

Trên đây là những giải đáp từ Công ty Luật Minh Khuê cho thắc mắc của bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi! Trân Trọng./.

>> Xem thêm:  Các trường hợp thu hồi đất ? Ủy ban nhân dân xã có quyền thu hồi đất canh tác không ?

2. Hướng dẫn xử lý tranh chấp quyền sử dụng đất ?

Một vụ tranh chấp hơn 20 m2 đất, tòa đã phân xử nhưng gần 15 năm nay phán quyết vẫn chỉ nằm trên giấy. Cuối năm 1987, bà T. ở Vũng Tàu cắt một phần đất hợp pháp bán cho ông K. Tiếp đến, bà bán 184 m2 đất còn lại cho bà H. Cả hai hợp đồng chuyển nhượng đất này đều được UBND phường chứng nhận. Sau đó, Sở Xây dựng Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo đã cấp “giấy đỏ” cho hai người mua nhưng lại không ghi diện tích đất mà chỉ ghi diện tích nhà.

“Quên” quyền lợi của người thứ ba

Thế rồi, rắc rối phát sinh khi ông K. cho rằng bà T. bán đất cho bà H. như trong hợp đồng chuyển nhượng là lấn sang phần đất ông đã mua trước đó. Vì thế, ông kiện bà T. ra tòa, yêu cầu “cắt bớt” phần diện tích bán cho bà H. lại cho ông.

TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã thụ lý, đưa bà H. vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đến năm 1995, ông K. và bà T. tự thỏa thuận là “cắt bớt” 20 m2 đất của bà H. giao cho ông K. Lạ một điều là TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận này mà không hề làm việc, ghi nhận ý chí của bà H.

Oái oăm hơn, đến phiên phúc thẩm (được mở vì ông K. và bà T. kháng cáo), hai đương sự lại đồng loạt rút kháng cáo, buộc Tòa phúc thẩm TAND tối cao phải đình chỉ xét xử. Đương nhiên, quyết định của TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có hiệu lực pháp luật.

Đến khi biết chuyện, bà H. chỉ còn mỗi một cách là khiếu nại lên TAND tối cao đề nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị giám đốc thẩm. Thế nhưng khiếu nại của bà sau đó đã không hề được hồi đáp.

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai, nhà ở ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Khó thi hành

Quyết định của TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có hiệu lực nhưng các cơ quan chức năng lại không đến đo đạc, cấp lại “giấy đỏ” cho các đương sự. Bốn năm sau, UBND tỉnh cấp “giấy đỏ” đồng loạt cho các hộ tại phường và cấp luôn cho bà H. theo đúng diện tích như trong hợp đồng chuyển nhượng ban đầu (184 m2) mà không hề hay biết đến phán quyết của tòa.

Đến lúc này, ông K. khiếu nại rằng UBND tỉnh cấp “giấy đỏ” cho bà H. như thế là đã phủ quyết bản án của tòa, làm mất của ông hơn 20 m2 đất. Ông K. khiếu nại mãi, đến cuối năm 2006, UBND tỉnh mới chịu công nhận phán quyết có từ năm 1995 của TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tầu.

Ông K. được giải quyết đúng ý thì đến lượt bà H. bất bình. Không chịu mất 20 m2 đất, bà đâm đơn kiện chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ra TAND tỉnh này.

Sai ngay từ đầu

Về nguyên tắc, bản án đã có hiệu lực pháp luật thì các cơ quan, cá nhân phải thi hành. Vì thế, chủ tịch UBND tỉnh phải giải quyết khiếu nại cho ông K. như trên và bị bà H. kiện. Tuy nhiên, chỉ sau hơn ba tháng thụ lý, mới đây tòa đã tạm đình chỉ vụ kiện hành chính của bà H.

Có chuyện này bởi trước đó, Sở Tài nguyên và Môi trường đã kiến nghị lên UBND tỉnh cho dừng việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại của chủ tịch tỉnh. Theo Sở, Sở không sai khi ghi nhận diện tích đất của bà H. là 184 m2 vì đã căn cứ vào hồ sơ chuyển nhượng, bản đồ trích lục trước năm 1975… Cạnh đó, bà H. cũng cho biết là giữa năm 2006, VKSND tối cao báo tin cho bà rằng đã yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chuyển hồ sơ lên để xem xét.

Từ đề xuất của Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh đã gửi công văn đến tòa và các cơ quan chức năng yêu cầu dừng thi hành quyết định của chủ tịch tỉnh. Dựa vào đó, TAND tỉnh đã ra quyết định tạm đình chỉ vụ kiện hành chính trên.

Theo nhiều chuyên gia, ngay từ đầu, TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã sai sót nghiêm trọng khi công nhận sự thỏa thuận giữa ông K. với bà T. mà không hề ghi nhận ý chí của bà H. Vì thế, việc thi hành quyết định của tòa bị tắc vì bà H. cương quyết không chịu và cơ quan chức năng cũng thấy lấn cấn, lần chần, không dám mạnh tay.

Vấn đề là nếu quyết định năm 1995 của tòa “chưa chuẩn” thì ai là người có thẩm quyền sửa sai? Đến nay, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm đã hết (ba năm kể từ ngày bản án, quyết định của tòa có hiệu lực pháp luật – NV). Mặt khác, nhìn lại cũng không có tình tiết nào mới phát sinh để làm thay đổi bản chất vụ án nên không thể xem xét theo thủ tục tái thẩm. Như vậy, xem ra vụ tranh chấp 20 m2 đất này trên thực tế chưa thể có điểm dừng.

Công ty luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Tư vấn tranh chấp thửa đất ? Tranh chấp về thời hạn thuê đất xử lý như thế nào ?

3. Các loại tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng đất ?

Thưa luật sư, Cho tôi hỏi: tôi ra ở riêng mà không có đất thổ cư tôi làm trên nền đất khoán, nhưng bên xã không cho làm, họ bảo làm là bị tháo dỡ vì giờ đất khoán đó vẫn thuộc của thị trấn chưa chuyển bàn giao cho xã nhưng xã không cho làm. Giờ tôi phải làm thế nào?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Trước đây loại đất mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền được thực hiện giao khoán cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu là đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng sản xuất, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh, công ty, xí nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp nhà nước. Hiện nay, văn bản này đã hết hiệu lực và hiện nay, cơ quan có thẩm quyền về đất đai chỉ được thực hiện các hình thức giao đất hoặc cho thuê đất đối với các loại đất này. Theo đó, nếu bạn xây dựng nhà ở trên nền đất khoán (đất nông nghiệp) thì theo quy định của pháp luật đất đai, hành vi này của bạn là chuyển mục đích sử dụng đất trái phép và có thể bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 102/2014/NĐ-CP. Do đó, việc xã không cho bạn làm trên diện tích đất này là đúng và nếu làm thì sẽ bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.

Thưa luật sư! Gia đình em có mua một căn nhà từ năm 2006 nằm gần khu công nghiệp Tân Bình, thuộc quân Bình Tân với giấy tờ viết tay của 2 người chủ. Bây giờ gia đình em có nguyện vọng hợp thức hóa giấy tờ để ra sổ đỏ. Nhưng khi ra hỏi cán bộ ở UBND phường Bình Hưng Hòa thì người ta trả lời chưa làm được do chưa có quyết định của nhà nước. Xin hỏi luật sư trường hợp của gia đình có thể hợp thức hóa được chưa và gia đình em cần phải chuẩn bị những giấy tờ gì? Và phải đóng mức thuế là bao nhiêu?

=> Căn cứ theo quy định tại Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, đối với trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy viết tay trước ngày 1/1/2008 thì được thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Tuy nhiên, để cấp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký còn phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất ở địa phương, kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện. Trong trường hợp quy hoạch sử dụng đất không phải là đất ở thì gia đình bạn không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp mảnh đất này thuộc quy hoạch sử dụng đất ở thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ bao gồm:

- Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Mẫu số 04/ĐK

- Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giấy viết tay)

- Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính

- Chứng từ lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân

- Bản sao có chứng thực CMND, sổ hộ khẩu,...

Vì thông tin bạn cung cấp chưa rõ ràng nên chúng tôi không thể xác định giá trị quyền sử dụng đất.

Thưa luật sư, Trong thổ đất của nhà tôi có ngôi mộ đã xây của nhà hàng xóm có từ cách đây 45 năm nay tôi muốn di chuyển đi để tập kết về nghĩa trang công cộng thì phải làm thể nào?

=> Căn cứ theo quy định tại Điều 12 Nghị định 23/2016/NĐ-CP, việc di chuyển các phần mộ riêng lẻ được thực hiện khi:

a) Gây ô nhiễm môi trường, cảnh quan nghiêm trọng không có khả năng khắc phục, ảnh hưởng đến môi trường sống của cộng đồng, không còn phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch nghĩa trang vùng tỉnh được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

b) Phục vụ các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và các công trình công cộng theo quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

c) Mộ vô chủ hoặc không còn thân nhân chăm sóc.

Tuy nhiên, chủ thể được áp dụng các biện pháp di chuyển phần mộ riêng lẻ là cơ quan nhà nước, cụ thể là UBND các cấp chứ không phải tất cả các tổ chức, cá nhân khác. Do đó, gia đình bạn trước khi muốn di chuyển phần mộ này tập kết về nghĩa trang công cộng thì cần xin phép UBND cấp xã và căn cứ vào tập quán ở địa phương để giải quyết.

Kính chào Văn phòng luật minh khuê! Tôi có một câu hỏi muốn nhận được sự tư vấn của văn phòng, rất mong sẽ nhận được sự hỗ trợ từ phía văn phòng. Hiện nhà tôi vừa xây nhà 2 tầng, phía trước là đường lớn, phía sau nhà là ruộng của một hộ dân khác. Khu ruộng này thuộc quy hoạch xây dựng mương thoát nước của cả khu, nhưng mới chỉ trên giấy tờ chưa triển khai. Nhưng mấy hôm nay chủ sở hữu đám ruộng lại cho máy múc đến múc thành ao rất sâu, sát vào móng nhà tôi. Tôi thấy là lo vì sợ nhà sụt lún, nên thắc mắc là việc múc của hộ dân đó có đúng không? và tôi cần phải giải quyết sự việc trên ra sao cho đúng quy định. Xin chân thành cảm ơn!

=> Căn cứ theo quy định của Luật Đất đai 2013, hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 12 là sử dụng đất không đúng mục đích; cản trở, gây khó khăn cho quyền sử dụng đất hợp pháp của người khác. Do đó, việc người này múc đất ruộng trồng lúa để thành ao là hành vi chuyển mục đích sử dụng đất mà không xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền (chuyển mục đích sử dụng đất trái phép) và có nguy cơ xâm phạm đến tài sản của người khác. Do đó, gia đình bạn có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật đất đai của họ đến chính quyền địa phương để được giải quyết.

Kính gửi Anh Chị Luật Sư Luật Minh Khuê. Gia đình em ở Hưng Yên. Hiện tại nhà e có 3 sào đất, năm 2010 xã về đo lại đất đai thì nhà em thừa gần một sào. Mặc dù trong xóm em mới chỉ có mấy nhà được chọn thí điểm làm sổ đỏ còn lại là chưa có sổ. Thời gian qua bố em có làm sổ đỏ mảnh đất trên và chia làm 3 sổ cho hai con trai, đất thừa thì bố em mua lại và cũng làm sổ đỏ. Tổng chi phí nộp cho mỗi sổ là 5triệu đồng/1 sổ. Em xin hỏi chi phí như vậy là đã đúng luật định chưa ạ? và nếu chưa thì gia đình em phải làm thế nào ạ? em cảm ơn anh chị rất nhiều!

=> Việc xác định chi phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp lý hay không phải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: quá trình bố bạn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nợ nghĩa vụ tài chính, trường hợp nộp tiền sử dụng đất, loại đất... Do đó, nếu chỉ với những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi không đủ căn cứ để khẳng định việc thu mức chi phí 5 triệu đồng/sổ là hợp lý hay không hợp lý.

Thưa luật sư, Gia đình tôi vài năm trước có tự ý thỏa thuận với người cùng xóm trao đổi ruộng đất để làm ăn kinh tế. Xung quanh khu đất tôi đổi đã đem xúc để làm ao thả cá trong lòng thì vẫn còn để ruộng cấy hái, hiện giờ chính quyền thôn có thu đất về để dồn điền nhưng gđ tôi chỉ được chia phần đã múc làm ao còn lại cá trong lòng thì mất toàn bộ. Xin hỏi là việc làm chính quyền thôn làm như vậy có đúng pháp luật? Và gđ tôi phải làm gì để được hưởng quyền lợi chính đáng! Xin cám ơn!

=> Căn cứ theo quy định của pháp luật đất đai hiện nay, việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp trồng lúa sang đất nuôi trồng thủy sản phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ở địa phương. Còn đối với chính sách dồn điền đổi thửa là chính sách của từng địa phương tiến tới xây dựng nông thôn mới. Khi triển khai dự án này, đất ruộng của các hộ gia đình sẽ được dồn lại một thửa để thực hiện sản xuất nông nghiệp, chính quyền địa phương không có nghĩa vụ phải đền bù về những tài sản trên đất được tạo lập trái với quy định của pháp luật đất đai.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ? Thủ tục mua bán, tách sổ của lô đất ?

4. Trường hợp nào được khởi kiện khi có tranh chấp về đất đai ?

Thưa luật sư, em có một vấn đề mong được luật sư tư vấn giúp . Bên nhà em có một miếng đất ở mặt đường giấy tờ đầy đủ giữa chủ cũ và bố em, là giấy tờ tay mua từ năm 2007.
Đến nay năm 2015 người A có miếng đất phía sau nhà em không có giấy tờ gì liên quan tới miếng đất nhà em đã mua gọi bên địa chính huyện tới đo làm sổ đỏ dẫn đến tranh chấp. Vậy nếu sổ đỏ hoàn thành thì bên em có thể kiện họ được không và có thể thắng kiện được không ạ ? Tất cả giấy tờ mua bán họ đều không có ạ?
Em xin chân thành cảm ơn

>> Luật sư tư vấn pháp đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

k10 điều 3 luật đất đai 2013 quy định:

10. Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Bên cạnh đó, Điều 99 Luật đất đai năm 2013 quy định về các trường hợp sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 99. Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;

b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;

c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;

d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;

e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;

k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi gia đình bạn có mua một mảnh đất của một gia đình khác và có giấy tờ viết tay. Tuy nhiên bạn không nói rõ gia đình bạn khi làm giấy tờ hợp đồng viết tay đó có công chứng, chứng thực hay không và đã được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất cho mảnh đất đó hay chưa nên có hai trường hợp xảy ra như sau:

Trường hợp 1: gia đình bạn và gia đình bán đất cho bạn khi bán đất có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng này đã được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Đồng thời sau khi làm xong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gia đình bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên mảnh đất đó thì bạn có thể kiện người có miếng đất phía sau nhà bạn.

Trường hợp 2: gia đình bạn và gia đình bán đất cho bạn khi bán đất có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng này không được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này sẽ bị vô hiệu. Do đó, gia đình bạn không có quyền khởi kiện người có đất ở phía sau mảnh đất mà gia đình bạn đã mua.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết tranh chấp hợp đồng tặng cho đất đai ? Mua bán nhà đất cần những giấy tờ gì ?

5. Hỏi về đất đai tranh chấp khi tiến hành thủ tục mua bán đất ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em mua đất hai miếng bằng nhau mà chủ đất chỉ sai miếng em xây nhà rồi giờ sai thửa đất có đỏi sổ lại được ko? Mà em giữ lại miếng đát xây nhà rồi đc hok luât sư ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Trong trường hợp này, nếu phần diện tích đất bạn đã xây nhà là tài sản thuộc sở hữu của người bán thì bạn tiếp tục sử dụng theo nội dung trong giấy chứng nhận. Nếu phần diện tích này không thuộc sở hữu của người bán thì Bạn có thể nộp hồ sơ yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

"

Điều 126. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

1. Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được.

Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Điều 132. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

1. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:

a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.

2. Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.

3. Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.

Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

Như vậy, Nếu giao dịch dân sự với phần diện tích bạn đã xây nhà vô hiệu buộc phải tháo dỡ công trình thì bên bán phải bồi thường cho bạn

Chào luật sư Minh Khuê, Năm 1985 Ông Tùng nhượng bán 1 phần đất đang ở cho gia đình tôi. Khi mua hai bên có giấy tờ mua bán và sơ đồ rõ ràng được chính quyền xác nhận. Lúc sang nhượng cho gia đình tôi Ông Tùng xác nhận ranh giới bán là Giáp với khu nhà chính của Ông. Nhưng nhà chính của Ông có phần đanh của sổ đưa về phía lối đi phần đất bán cho nhà tôi. Như vậy tôi xác định ranh giới của tôi là từ vách nhà Ông Tùng hay tính từ phần đanh cửa của ông đưa ra. Hiện tại ngôi nhà chính của Ông Tùng cũng đã bán qua nhiều chủ nên việc xác định ranh giới khá phức tạp. Tôi có đính kèm theo sơ đồ và ranh giới lúc mua đất. Mong luật sư giúp tôi xác định ranh giới của tôi một cách chính xác nhất. Rất mong nhận được sự hồi đáp của Luật sư, Tôi xin chân thành cảm ơn!

=> Trường hợp có tranh chấp về ranh giới đất các bên có quyền nộp hồ sơ khiếu nại hoặc khởi kiện tới ủy ban nhân dân cấp xã để tiến hành đo đạc lại và xác định ranh giới giữa các bất động sản liền kề theo quy định tại thông tư 24/2014/TT-BTNMT như sau:

" Điều 28. Kiểm tra việc lập, chỉnh lý hồ sơ địa chính

1. Kiểm tra hồ sơ địa chính bao gồm:

a) Kiểm tra sau khi xây dựng ban đầu trước khi đưa vào sử dụng;

b) Kiểm tra trong quá trình cập nhật, chỉnh lý biến động.

2. Nội dung kiểm tra hồ sơ địa chính bao gồm:

a) Kiểm tra hình thức trình bày tài liệu hồ sơ địa chính;

b) Kiểm tra tính thống nhất của từng thông tin giữa các tài liệu bao gồm:

- Sự thống nhất của thông tin số hiệu thửa, diện tích, loại đất giữa tài liệu đo đạc sử dụng để đăng ký và sổ mục kê đất đai;

- Sự thống nhất của thông tin mục đích sử dụng đất theo quy hoạch giữa sổ mục kê đất đai với bản đồ quy hoạch sử dụng đất;

- Sự thống nhất của thông tin số hiệu thửa, diện tích, loại đất giữa sổ địa chính và sổ mục kê đất đai;

- Sự thống nhất của các thông tin đăng ký lần đầu giữa sổ địa chính với hồ sơ thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và bản lưu Giấy chứng nhận hoặc bản quét Giấy chứng nhận lưu trong cơ sở dữ liệu địa chính (nếu có);

- Sự thống nhất của các thông tin đăng ký biến động giữa hồ sơ thủ tục đăng ký biến động với sổ địa chính, bản lưu (hoặc bản quét) Giấy chứng nhận, tài liệu đo đạc sử dụng, sổ mục kê đất đai;

- Sự thống nhất của việc chỉnh lý ranh giới, diện tích thửa đất giữa hồ sơ thủ tục đăng ký biến động đất đai với bản đồ địa chính (hoặc tài liệu đo đạc khác đã sử dụng để đăng ký);

c) Kiểm tra tính đầy đủ nội dung của từng tài liệu hồ sơ bao gồm:

- Kiểm tra số lượng thửa đất đã vào sổ mục kê đất đai;

- Kiểm tra số lượng hồ sơ thủ tục đăng ký ban đầu, hồ sơ thủ tục đăng ký biến động về đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cập nhật, chỉnh lý vào sổ địa chính;

- Kiểm tra số lượng bản quét của Giấy chứng nhận và các giấy tờ pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lưu trong cơ sở dữ liệu địa chính so với số lượng giấy tờ cùng loại hiện có;

d) Nội dung kiểm tra việc đo đạc, thành lập bản đồ địa chính, sổ mục kê đất đai thực hiện theo quy định về bản đồ địa chính của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

3. Trách nhiệm và mức độ kiểm tra hồ sơ địa chính quy định như sau:

a) Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm tra, nghiệm thu chất lượng hồ sơ địa chính được lập ban đầu trước khi đưa vào sử dụng trừ trường hợp quy định tại Điểm c Khoản này.

Mức độ kiểm tra thực hiện theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường về kiểm tra, thẩm định và nghiệm thu công trình, sản phẩm địa chính;

b) Cơ quan đăng ký đất đai có trách nhiệm:

- Kiểm tra việc đo đạc chỉnh lý, chia tách thửa đất trên bản đồ địa chính; kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất hoặc các loại bản đồ khác hiện có dạng giấy, dạng số đối với nơi chưa có bản đồ địa chính trước khi sử dụng để đăng ký, cấp Giấy chứng nhận đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền;

- Tổ chức kiểm tra thường xuyên việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính dạng số đã thực hiện.

Địa phương chưa xây dựng hồ sơ địa chính dạng số thì tổ chức kiểm tra thường xuyên việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính đối với tất cả các trường hợp đã đăng ký;

c) Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra định kỳ việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện thực hiện. Mức độ kiểm tra tối thiểu là 20% số trường hợp đã cập nhật, chỉnh lý;

d) Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tối thiểu 6 tháng một lần việc cập nhật, chỉnh lý bản sao hồ sơ địa chính do công chức địa chính cấp xã thực hiện."

Xin chào luật sư! Vui lòng giải đáp cho em hỏi thắc mắc này được kg ạ? em mua đất ở khu phố B phường Bình Phước B tỉnh Bình Dương vào năm 2011 và đã lên đất ở tại đô thị, trên sổ hồng ghi nợ tiền sử dụng đất (là 30triệu). Bây giờ em muốn xây nhà nhưng do kinh tế eo hẹp em muốn xin giấy phép xây dựng nhưng vẫn xin nợ lại tiền sử dụng đất đó thì có được xây nhà kg ạ??? có luật nào cho phép như vậy kg ạ ? Xin cám ơn luật sư!

=> Việc ghi nợ tiền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại điều 16 Nghị định 43/2014/NĐ-CP Hướng dẫn thi hành Luật đất đai như sau:

" Điều 16. Ghi nợ tiền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân được chuyển mục đích sử dụng đất; được cấp Giấy chứng nhận phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9 Nghị định này và hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất tái định cư mà có khó khăn về tài chính, có nguyện vọng ghi nợ thì được ghi nợ số tiền sử dụng đất phải nộp trên Giấy chứng nhận sau khi có đơn đề nghị kèm theo hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận hoặc hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất hoặc hồ sơ giao đất tái định cư hoặc có đơn xin ghi nợ khi nhận thông báo nộp tiền sử dụng đất. Người sử dụng đất được trả nợ dần trong thời hạn tối đa là 5 năm; sau 5 năm kể từ ngày ghi nợ mà chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất còn lại theo giá đất tại thời điểm trả nợ. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân thanh toán nợ trước hạn thì được hỗ trợ giảm trừ vào tiền sử dụng đất phải nộp theo mức hỗ trợ là 2%/năm của thời hạn trả nợ trước hạn và tính trên số tiền sử dụng đất trả nợ trước hạn.

2. Đối với trường hợp đã được ghi nợ tiền sử dụng đất trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà còn nợ tiền sử dụng đất trong thời hạn được ghi nợ thì được hưởng mức hỗ trợ thanh toán trước hạn theo quy định tại Khoản 1 Điều này.

3. Bộ Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục ghi nợ và thanh toán nợ tiền sử dụng đất quy định tại Khoản 1 Điều này."

Khi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bạn vẫn được thực hiện đầy đủ quyền của người sử dụng đất.

Kính gửi công ty Luật Minh Khuê, Hiện nay tôi có vấn đề chưa rõ về luật đất đai muốn xin quý công ty tư vấn giúp Tôi định mua đất có nhà cấp 4 với tình trạng đất như sau: - Địa điểm: cạnh khu đô thị Xa La - Xí nghiệp Cơ Mộc - công ty xây dựng có giao đất của công ty cho cán bộ từ năm 89 với số tiền thanh lý theo văn bản đính kèm từ năm 89 đến nay chủ nhà có đóng thuế hàng năm với diện tích đất là 57,8 m2 Vậy Luật sư tư vấn giúp tôi liệu đất trên có thể làm được sổ đỏ; thủ tục làm sổ đỏ thế nào; có được phép mua bán;thủ tục mua bán ra sao; nếu trường hợp sau này nhà nước làm dự án mà mảnh đất này nằm trong quy hoạch giải tỏa thì chủ đất sẽ được đền bù ra sao Rất mong nhận được tư vấn hỗ trợ của quý Công ty Tôi xin cám ơn! Trân trọng/

=> Trường hợp này, người bán cần thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới có thể chuyển nhượng cho bạn được. Người bán đã có một trong những giấy tờ về quyền sử dụng đất. Vì vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện tại Điều 100 Luật đất đai như sau:

" Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ."

Thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện như sau:

Bạn cần phải chuẩn bị:

- Một bộ hồ sơ bao gồm:

+ Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Mẫu số 04/ĐK).

+ Một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai đối với trường hợp đăng ký về quyền sử dụng đất.

+ Một trong các giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Đất đai (đối với trường hợp đăng ký về quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất).

Trường hợp đăng ký về quyền sở hữu nhà ở hoặc công trình xây dựng thì phải có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng đã có sơ đồ phù hợp với hiện trạng nhà ở, công trình đã xây dựng).

+ Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; giấy tờ liên quan đến việc miễn, giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai, tài sản gắn liền với đất (nếu có).

+ Trường hợp có đăng ký quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề phải có hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án nhân dân về việc xác lập quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề, kèm theo sơ đồ thể hiện vị trí, kích thước phần diện tích thửa đất mà người sử dụng thửa đất liền kề được quyền sử dụng hạn chế.

+ Tờ khai lệ phí trước bạ (Mẫu số 01/LPTB).

+ Tờ khai tiền sử dụng đất (Mẫu số 01/TSDĐ).

- Số lượng hồ sơ: 01 bộ

- Thời gian thực hiện: Không quá 30 (ba mươi) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, không kể thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính và thời gian niêm yết công khai của UBND cấp xã (15 ngày).

- Cơ quan tiếp nhận hồ sơ: Văn phòng đăng ký đất đai cấp quận huyện

Khi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì khi bị thu hồi phần diện tích này sẽ được bồi thường theo nguyên tắc sau:

" Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật."

Xin chào luật sư Minh Khuê Việc của em là: ngày xưa thời ông nội em có để ra một miếng đất khoảng 1000m2 trong đồng để làm ao làng. Sau đó đến đời Ba tôi cũng để vậy, rồi sau đó đến năm 2012 Ba tôi mất và đến nay có người ở gần đó muốn chiếm giữ luôn. Do đó, nay em kính mong luật sư tư vấn giúp em để sao cho em có thể lấy lại miếng đất trên và làm sở hữu. Tư liệu: - Miếng đất đó hiện nay chưa có ai đứng tên. - Hàng xóm những người lớn tuổi ai cũng biết là đất ao đó là của ông nội em. - Vào năm 2005 người mua đất liền kề cái ao đó có kêu Ba em ký giáp ranh. Em xin trân trọng cảm ơn luật sư.

=> Trong trường hợp này, Để xác nhận quyền sở hữu phần tài sản này, xác nhận điều kiện công nhận quyền sử dụng đất bạn có thể tìm hiểu thông tin địa chính được thể hiện trong hồ sơ địa chính cấp xã để biết ai đang là người sử dụng phần diện tích này. Căn cứ cấp giấy chứng nhận được quy định tại điều 100, điều 101 luật đất đai 2013 như sau:

" Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư đất đai - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Xử lý tranh chấp quyền sở hữu nhà ở ?