Sau khi đóng tiền nhân viên của công ty này đưa người lao động đến 1 công ty khác (đây không phải là công ty sử dụng lao động)
Công ty này lại yêu cầu người lao động đóng thêm số tiền từ 2 triệu cho đến 10 triệu, để được nhận việc. Như vậy người lao động một mặt vì không có tiền một mặt vì không chịu được những thủ tục lòng vòng để nhận được việc do công ty thứ 2 đưa ra.
Như vậy Tôi rất muốn tham vấn ý kiến của luật sư bên phía công ty về vấn đề này.
Cụ thể:
- Các công ty trên có hoạt động đúng chức năng và thẩm quyền được phép của mình hay không?
- Việc làm như vậy có vi phạm pháp luật hay không? Vi phạm quy định nào?x
- Nếu vi phạm các công ty này sẽ bị xử lý như thế nào?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao động của Công ty ty Luật Minh Khuê
Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:
Cơ sở pháp lý
- Nghị định số 59/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện;
- Nghị định số 196/2013/NĐ-CP quy định thành lập và hoạt động của Trung tâm dịch vụ việc làm;
- Nghị định 52/2014/NĐ-CP Quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm
- Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
- Nghị định số 95/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Nghị định 88/2015/NĐ-CP về sửa đổi một số điều của Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
-Thông tư liên tịch số 95/2007/TTLT/BTC-BLĐTBXH hướng dẫn phí giới thiệu việc làm do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội - Bộ Tài chính ban hành;
- Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ban hành hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành;
Nội dung phân tích
1.Các công ty trên có hoạt động đúng chức năng và thẩm quyền được phép của mình hay không?
Khoản 1, khoản 2, Điều 7 Luật Doanh nghiệp quy định về Quyền của doanh nghiệp như sau: “Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm; Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh”.
Khoản 1 Điều 8 Luật Doanh nghiệp xác định Nghĩa vụ của doanh nghiệp “Đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật đầu tư và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh”.
Khoản 6 Điều 17 quy định về một trong các hành vi bị nghiêm cấm của doanh nghiệp là “Kinh doanh các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động”.
Hoạt động môi giới lao động, việc làm theo quyết định số 10/2007/QĐ-TTg được xếp vào ngành nghề hoạt động của các trung tâm, đại lý tư vấn, giới thiệu và môi giới lao động, việc làm với mã ngành nghề 781/7810/78100. Theo quy định tại mục 2 Phụ lục III đính kèm Nghị định số 59/2006/NĐ-CP về Danh mục hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện thì Dịch vụ giới thiệu việc làm một trong các dịch vụ kinh doanh có điều kiện không cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.
Khoản 2 Điều 14 Bộ luật lao động 2012 có quy định về tổ chức được hoạt động giới thiệu việc làm bao gồm:
"2. Tổ chức dịch vụ việc làm bao gồm trung tâm dịch vụ việc làm và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm.
Trung tâm dịch vụ việc làm được thành lập, hoạt động theo quy định của Chính phủ.
Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp và phải có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh cấp."
Như vậy, các tổ chức được hoạt động tư vấn, giới thiệu và môi giới lao động được thành lập dưới hai hình thức: Hoặc là trung tâm dịch vụ việc làm hoặc là doanh nghiệp dịch vụ việc làm.
Điều kiện kinh doanh ngành nghề này được quy định cụ thể tại Nghị định số 196/2013/NĐ-CP quy định thành lập và hoạt động của Trung tâm dịch vụ việc làm và Nghị định 52/2014/NĐ-CP quy định về thành lập và hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ việc làm.
Như vậy, vấn đề quan trọng ở đây là phải kiểm tra xem các công ty mà quý khách nói đến hoạt động theo hình thức nào, là trung tâm dịch vụ việc làm thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ hay doanh nghiệp dịch vụ việc làm được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật doanh nghiệp.
- Khoản 2 Điều 5 Nghị định 196/2013/NĐ-CP quy định về nhiệm vụ liên quan đến giới thiệu việc làm của trung tâm dịch vụ việc làm như sau:
"2. Giới thiệu việc làm cho người lao động, cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động, bao gồm:
a) Giới thiệu người lao động cần tìm việc làm với người sử dụng lao động cần tuyển lao động;
b) Cung ứng lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
c) Tuyển lao động thông qua thi tuyển để lựa chọn những người đủ điều kiện, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động;
d) Giới thiệu, cung ứng lao động cho đơn vị, doanh nghiệp được cấp phép đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng."
-Khoản 2 Điều 3 Nghị định 52/2014/NĐ-CP quy định về nhiệm vụ của doanh nghiệp dịch vụ việc làm liên quan đến lĩnh vực giới thiệu việc làm như sau:
"2. Giới thiệu việc làm cho người lao động, cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động, bao gồm:
a) Giới thiệu người lao động cần tìm việc làm cho người sử dụng lao động cần tuyển lao động;
b) Cung ứng lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
c) Cung ứng, giới thiệu lao động cho các đơn vị, doanh nghiệp được cấp phép đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động."
Trung tâm dịch vụ việc làm và doanh nghiệp dịch vụ việc làm khi giới thiệu việc làm cho người lao động được phép thu phí theo quy định của pháp luật về phí.
Như vậy, để kiểm tra Công ty trên có hoạt động đúng chức năng và thẩm quyền được phép của mình hay không mình cần kiểm tra phạm vi hoạt động kinh doanh doanh của các công ty trên.
2. Việc làm như vậy có vi phạm pháp luật hay không? Vi phạm quy định nào? Nếu vi phạm các công ty này sẽ bị xử lý như thế nào?
Thứ nhất, về Phí môi giới lao động được hiểu là phí giới thiệu việc làm. Việc xác định phí này được dựa trên khoản 1, mục 2, Thông tư liên tịch số 95/2007/TTLT/BTC-BLĐTBXH. Cụ thể mức thu phí đối với công việc giới thiệu việc làm cho người lao động áp dụng cho tổ chức giới thiệu việc làm là không quá 200.000 VNĐ. Phí giới thiệu việc làm mà công ty thu với người lao động là 500.000 VNĐ đang vượt quá mức quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 95/2013/NĐ-CP có quy định về xử phạt đối với hành vi thu phí vượt quá mức quy định của pháp luật như sau: "1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng khi vi phạm với mỗi người lao động đối với tổ chức dịch vụ việc làm có hành vi thu phí dịch vụ việc làm vượt quá mức quy định. "
Đến ngày 25/11/2015 Nghị định 88/2015/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 95/2013/NĐ-CP có hiệu lực thì mức phạt được quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 88/2015/NĐ-CP như sau: “Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng khi vi phạm với mỗi người lao động đối với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm có hành vi thu phí dịch vụ việc làm vượt quá mức quy định”
Thứ hai, về việc công ty sử dung lao động yêu cầu nộp 2.000.000 VNĐ để nhận được việc. Việc làm này đang vi phạm khoản 2 Điều 20 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP hành vi "Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động” là một trong những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động
Điểm b, khoản 2, Điều 5 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP quy định mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động nêu trên như sau: “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây: Buộc người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động”.
Thứ ba, nếu việc công ty đầu tiên có hoạt động môi giới, giới thiệu việc làm tuy nhiên sau khi kiểm tra không đáp ứng điều kiện kinh doanh hoặc hoạt động kinh doanh không đúng với nghành nghề kinh doanh hoặc không có giấy phép kinh doanh thì sẽ bị xử lý theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 6 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP về Hành vi vi phạm về hoạt động kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như sau:
“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi kinh doanh không đúng ngành nghề, mặt hàng, địa điểm kinh doanh ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh mà không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định”.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Emailhoặc qua Tổng đài tư vấn:1900.6162.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn luật lao động