Kính chào Luật Minh Khuê, cháu có một vấn đề mong các luật sư giải đáp:

Trước đó một thời gian, gia đình cháu có một mảnh rừng trồng keo và có một ông hàng xóm cũng trồng bên cạnh. Và khi khai thác thì ông này khai thác trước và chặt mất 2 hàng keo của nhà cháu nên mẹ cháu và ông hàng xóm này có lời qua tiếng lại. Và sự việc đó qua đi được ít lâu thì nhà cháu cũng bán mảnh đất đó cho một người khác.

Khi mẹ cháu làm công, khai thác keo cho người này thì ông hàng xóm kia cũng lên dọn đất, và tiếp tục tranh giành đất của nhà cháu (đã bán cho người ta). Hai bên lời qua tiếng lại và đánh nhau. Vì trong lúc đang làm nên mẹ cháu đang cầm rựa nên đã đánh ông ta bị thương (tuy nhiên mẹ cháu cũng bị ông ta đánh không ít).

Sau khi hai bên được những người ở đó can ngăn thì ông ta đi bệnh viện để giám định thương tật. Và hiện giờ đã đưa đơn kiện lên công an và tòa án. Bên công an đã có mời 2 bên gặp mặt giảng hòa nhưng ông ta không chịu. Mẹ cháu cũng đã xin lỗi vì muốn êm chuyện nhưng ông ta vẫn không đồng ý. Hiện nay bên tòa án cũng đã mời 2 bên lên làm việc. Tòa khuyên mẹ tôi xin lỗi để ông ta rút đơn kiện.

Nhưng cháu xin hỏi quý luật sư: Mẹ cháu đã từng xin lỗi rồi nhưng ông ta cứ khiêu khích và không đồng ý, vậy bảo mẹ cháu làm sao? Ông ta còn bảo cả dòng họ cháu xin lỗi thì ông ta mới chịu. Nhưng ông ta chửi dòng họ cháu, ba mẹ cháu, ông bà cháu. Giờ lại bắt nhà cháu đi xin lỗi là sao ? Đúng là mẹ cháu hơi nóng nảy, không nên đánh người. Nhưng dù sao mẹ cháu cũng là phụ nữ, và ông ta chửi bới gia đình cháu.

Mong quý luật sư cho cháu lời khuyên và chỉ cho cháu cách để cháu có thể bảo vệ mẹ mình. Và Luật sư cho cháu hỏi trường hợp đánh người do bị chửi nên mất bình tĩnh thì khung hình phạt như thế nào ạ ?

Cháu xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về việc đánh người gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ?

Luật sư tư vấn đánh người khi bị kích động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi.Câu hỏi của bạn được giải đáp như sau :

1. Đánh nhau là gì ?

Hiện nay, thuật ngữ "đánh nhau" không được quy định trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào. Tuy nhiên có thể hiểu đó là hành vi cố ý gây thương tích làm tổn hại đến sức khỏe người khác. Về hành vi cố ý gây thương tích được quy định trong Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Để cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc xâm hại sức khỏe người khác cần phải thỏa mãn các điều kiện sau:

Về hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, thể hiện nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.
- Về công cụ, phương tiện sử dụng: Những loại phương tiện ít nguy hiểm đến tính mạng để thực hiện hành vi phạm tội có thể xác định được là người phạm tội mong muốn giết người hay đơn thuần chỉ gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe.
- Vị trí trên cơ thể mà người phạm tội gây ra thương tích , tổn hại sức khỏe: Nếu một người muốn tước đoạt sinh mạng (GIẾT) người khác thì người phạm tội sẽ tấn công vào những nơi xung yếu trên cơ thể như: vùng đầu, vùng ngực, vùng bụng…, ngược lại có thể xác định là hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe mà không phải là hành vi giết người.
- Mức độ nguy hiểm của hành vi: Xác định hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe dựa vào mức độ tấn công với cường độ mạnh hay yếu cùng với vị trí tấn công trên cơ thể xem hành vi đó có dồn dập và cường độ tấn công mạnh không?
Chủ thể của tội phạm: Là người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.
Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.
Khách thể của tội phạm: Đó là cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe.

Như vậy có thể hiểu theo cách của bạn cố ý gây thương tích (đánh nhau) là hành vi hai người đánh qua đánh lại và cả hai đều bị thương tích ở một mức độ nhất định hoặc chủ thể này đánh chủ thể khác dẫn đến chủ thể bị đánh (bị gây thương tích) không thể chống trả được hoặc không chống trả lại dẫn đến bị thương tích... Tham khảo nội dung liên quan: Phân biệt tội giết người và tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người ?

2. Xâm hại sức khỏe người khác

Có thể hiểu là hành vi làm xâm hại đến tình trạng sức khỏe bình thường của một chủ thể khác, làm cho sức khỏe của chủ thể bị xâm hại bị mất hoặc bị suy giảm do hành vi xâm hại đó gây ra. Hành vi xâm hại đó có thể là bằng hành động như đấm, đá, chém, hạ độc.. hoặc không hành động. Trường hợp bạn đưa ra cũng là một dạng của hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, tuy nhiên không nhất thiết phải khi hai người đánh nhau cả hai nguời đều bị thương tích mới là hành vi làm xâm hại đến sức khỏe người khác, trong trường hợp chỉ có một người bị thương tích còn người còn lại không sao cũng sẽ vẫn cấu thành tội cố ý gây thương tích làm xâm hại đến sức khỏe của người khác. Tham khảo nội dung liên quan: Hành vi chở 1 nhóm người đi đánh nhau gây thương tích sẽ bị xử lý như nào ?

3. Tội cố ý gây thương tích khi tinh thần kích động mạnh

Trường hợp của mẹ bạn, đánh người do bị tác động bởi nạn nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm với tội "cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh" được quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cụ thể:

"Điều 135. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người."

Như vậy, để xác định mẹ bạn có phạm tội hay không, cần dựa vào các yếu tố sau:

- Trạng thái tinh thần mẹ bạn khi đánh ông hàng xóm (tạm gọi là ông A) bị kích động mạnh.

Người bị kích động về tinh thần là người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức. Lúc đó họ mất khả năng tự chủ và không thấy hết được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình; trạng thái này chỉ xảy ra trong chốc lát, sau đó tinh thần của họ trở lại bình thường như trước; trạng thái tinh thần bị kích động ở những mức độ khác nhau.

- Phải có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với mẹ bạn hoặc đối với gia đình bạn

Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì :

"Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Như vậy, hành vi chửi rủa gia đình bạn của ông A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác. Trong trường hợp này, hành vi của ông A có thể được xem là trái pháp luật nghiêm trọng.

- Tỷ lệ thương tật của người bị hại phải từ 31 % đến 60%

Như vậy, phải căn cứ vào mức độ giám định thương tật của ông A, nếu tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên thì mới xem xét có vi phạm tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần kích động mạnh. Nếu mức độ thương tật dưới 31% thì sẽ không phải chịu trách nhiệm liên quan đến vấn đề này.

4. Phân tích dấu hiệu, hình phạt tội cố ý gây thương tích khi tinh thần kích động mạnh

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017):

4.1 Dấu hiệu pháp lý

Xét về bản chất, đây là trường hợp phạm tội có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác. So với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, tội phạm này có 02 điểm khác là:

Tổn hại cho sức khoẻ của người khác. So với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoè của người khác, tội phạm này có hai điểm khác là:

- Chủ thể thực hiện hành vi phạm tội do động cơ phòng vệ hoặc động cơ bắt giữ người phạm tội nhưng đã vượt quá giới hạn cho phép. Nội dung của điểm khấc này tương tự như ở tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cân thiết khi bắt giữ người phạm tội.(1)

- Hậu quả của tội phạm phải ở mức độ có tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên.

4.2 Hình phạt

Điều luật quy định 02 khung hình phạt chính.

Khung hình phạt cơ bản có mức phạt tiền từ 05 triệu đồng đồng đến 20 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm được quy định cho trường hợp phạm tội cỏ một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

- (Phạm tội) đối với 02 người trở lên mà tỉ lệ tổn thương cơ thề của mỗi người từ 31% đến 60%;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lén.

Khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 01 năm đến 03 năm được quy định cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

Lỗi của người phạm tội đối với hành vi dùng vũ lực ngoài trường hợp pháp luật cho phép được quy định là lỗi cố ý.

Động cơ của người phạm tội được quy định là động cơ thi hành công vụ.

Điều luật quy định 02 khung hình phạt chính và 01 khung hình phạt bổ sung.

Khung hình phạt cơ bản có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm được quy định cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau;

- (Phạm tội) đối với 02 người trở lên mà tỉ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người là 31% trở lên;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể là 61% trở lên;

- (Phạm tội) đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.

Khung hình phạt bổ sung được quy định (có thể áp dụng) là: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Kết luận về tội cố ý gây thương tích khi bị kích động

Bạn cần căn cứ vào tình hình thực tế, xem xét những vấn đề liên quan mà chúng tôi đã phân tích để yêu cầu cơ quan công an làm rõ. Tuy nhiên, gia đình bạn nên chủ động giải thích rõ về trách nhiệm của ông A trong trường hợp này để hai bên có thể giải quyết theo thỏa thuận một cách ổn thỏa nhất.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách qua tổng đài tư vấn trực tuyến 24/7: 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng !

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bảo vệ quyền lợi của cá nhân khi bị công an đánh ? Phải làm gì khi bị đe đọa đánh đập ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là gì?

Trả lời:

Vấn đề trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong Bộ luật hình sự đã được hướng dẫn lần đầu tiên tại Điểm b Mục 1 Chương 2 Nghị quyết số 04/HĐTP/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, theo đó:

“Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người. Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động  đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh”.

Câu hỏi: Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra có phải tình tiết giảm nhẹ TNHS không?

Trả lời:

Căn cứ Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

Như vậy, phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra la phải tình tiết giảm nhẹ TNHS.

Câu hỏi: Phân biệt phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng?

Trả lời:

 Phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Về phía nạn nhân: là người đang có hành vi xâm phạm đến các lợi ích của NN, của tổ chức, của cá nhân người phòng vệ hoặc của người khác. Hành vi xâm phạm này phải là hành vi có tính chất nguy hiểm đáng kể. Mức độ đáng kể ở đây là tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm phạm,

- Về phía người phòng vệ: gây thiệt hại tính mạng hoặc sức khoẻ về cho người có hành vi xâm phạm.

- Hành vi chống trả vượt quá mức cần thiết: là việc phòng vệ chống trả quá mức cần thiết không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại thì hành vi đó đã vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

- Trạng thái tinh thần của người phạm tội phải ở trạng thái bị kích động: là người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức. Trạng thái này chỉ xảy ra trong chốc lát, sau đó tinh thần của họ trở lại bình thường như trước

- Phải có hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác

- Hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác phải là nguyên nhân làm cho người phạm tội  bị kích động mạnh về tinh thần