Bên B đã thanh toán một phần tiền hợp đồng vào tài khoản của công ty A. Hóa đơn do bên công ty C xuất. Vậy luật sư cho em hỏi các thủ tục cần thiết để tạo tính hợp pháp cho hợp đồng và các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo hợp đồng.

Người hỏi: NT Quỳnh

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật doanh nghiệpcủa Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn về việc ký kết hợp đồng cung cấp hàng hóa ?

Luật sư tư vấn luật Doanh nghiệp gọi1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Luật Minh Khuê! Vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Dân sự năm 2005

Luật Thương mại năm 2005

2. Nội dung trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi thì để một hợp đồng có tính hợp pháp thì phải căn cứ vào Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể:

"Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định".

Căn cứ vào Điều 522 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định như sau:

"Điều 522. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ

Bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:

1. Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thoả thuận khác;

2. Không được giao cho người khác thực hiện thay công việc, nếu không có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ;

3. Bảo quản và phải giao lại cho bên thuê dịch vụ tài liệu và phương tiện được giao sau khi hoàn thành công việc;

4. Báo ngay cho bên thuê dịch vụ về việc thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm chất lượng để hoàn thành công việc;

5. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định;

6. Bồi thường thiệt hại cho bên thuê dịch vụ, nếu làm mất mát, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin".

 Căn cứ vào Điều 81 Luật Thương mại năm 2005 có quy định như sau:

 "Điều 81. Hợp tác giữa các bên cung ứng dịch vụ

Trường hợp theo thỏa thuận hoặc dựa vào tình hình cụ thể, một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác thì mỗi bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:

1. Trao đổi, thông tin cho nhau về tiến độ công việc và yêu cầu của mình có liên quan đến việc cung ứng dịch vụ, đồng thời phải cung ứng dịch vụ vào thời gian và theo phương thức phù hợp để không gây cản trở đến hoạt động của bên cung ứng dịch vụ đó;

2. Tiến hành bất kỳ hoạt động hợp tác cần thiết nào với các bên cung ứng dịch vụ khác".

Khi hợp đồng của bạn đáp ứng đủ các điều kiện tại Điều 122 (như trên) thì hợp đồng đó có tính hợp pháp và phát sinh hiệu lực trên thực tế. Tuy nhiên do Công ty A và Công ty B là hai chủ thể trực tiếp ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ cho nên để hợp đồng được hợp pháp thì Công ty A và Công ty C phải thực hiện việc chuyển nhượng công việc mà Công ty A đang thực hiện. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 522 ( như trên) thì nếu việc giao cho bên thứ ba thực hiện công việc thì để hợp pháp chỉ cần sự đồng ý của bên thuê dịch vụ là hợp pháp, trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ tự ý chuyển giao công việc cho bên thứ ba mà không có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ thì hợp đồng giữa Công ty A và Công ty B sẽ vô hiệu. Hoặc trong trường hợp bạn và phía Công ty A có thỏa thuận về việc thêm một bên cung ứng dịch nữa thì việc thực hiện hợp đồng giữ ba Công ty sẽ đều hợp pháp.

Việc trả tiền thì bạn nên trả cho bên nào thì nhận hóa đơn từ bên đó để tránh các rủi ro sau này có thể xảy ra khi đã kết thúc hợp đồn dịch vụ giữa các bên.

Với trường hợp chuyển giao hợp đồng khi thực hiện việc chuyển giao công việc thì mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa Công ty A và Công ty B sẽ chấm dứt thay và đó là quyền và nghĩa vụ giữa Công ty B và Công ty C sẽ phát sinh theo quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về doanh nghiệp và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi hoặc bạn có thể liên hệ qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162.

Trân trọng ./.

Bộ phận luật sư doanh nghiệp