"Công ty TNHH thương mại A có trụ sở tại quận 1 Thành phố HCM ký hợp đồng bán hàng thủ công mỹ nghệ cho Công ty B có trụ sở tại Toronto, Canada thông qua Văn phòng đại diện của công ty này tại Việt Nam qua một hợp đồng bằng fax vào ngày 30 tháng 5 năm 2009. Theo hợp đồng, A sẽ bán cho B 10.000 mặt hàng ghế mây và 20.000 kệ đựng báo chất liệu bằng mây với chất lượng hàng hóa đã được thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng. Tổng giá trị hợp đồng là 100.000 USD. Với những điều kiện sau: - Chuyến hàng đầu tiên sẽ được giao vào ngày 30 tháng 6 năm 2009 gồm: 5.000 ghế mây và 5.000 kệ đựng báo. - Chuyến hàng thứ hai sẽ được giao vào ngày 15 tháng 7 năm 2009 gồm: 10.000 kệ đựng báo . - Chuyến hàng thứ ba sẽ được giao vào ngày 30 tháng 8 năm 2009 gồm: 5.000 ghế mây và 5.000 kệ đựng báo. - Thanh toán bằng L/C có xác nhận và không hủy ngang. - Đảm bảo thực hiện hợp đồng trị giá 5% tổng trị giá hợp đồng do bị đơn cấp “ ngay sau khi L/C tương ứng được mở”. Chuyến hàng đầu tiên đã được giao vào ngày 30 tháng 6 năm 2009 theo như hợp đồng. Tuy nhiên, đến chuyến hàng thứ 2 thì A thông báo cho B bằng Telex rằng do mưa lớn, thiếu nhiện liệu và giá cả tăng cao nên không thể giao hàng theo đúng hợp đồng. Vì thế, chuyến hàng thứ 2 sẽ được giao vào ngày 30 tháng 7 năm 2009 và bên B đã đồng ý. Nhưng sau đó, A không hề có động thái gì và thực tế đã không tiến hành giao chuyến hàng thứ 2. Ngày 20 tháng 8, 2 bên gặp nhau để bàn bạc về việc thực hiện hợp đồng. A viện cớ rằng mình phải chịu những tổn thất do giá dầu tăng đề nghị tăng thêm 30% hợp đồng. B không chấp nhận yêu cầu này. Vì thế A muốn hủy bỏ hợp đồng vì lý do bất khả kháng và đòi được thanh toán tiền hàng cho chuyến hàng đầu tiên đã giao.

1. Theo các Anh(Chị) hợp đồng trên có hiệu lực chưa? Giải thích. Hãy nêu nguồn luật cơ bản có thể điều chỉnh quan hệ hợp đồng trên.

2.  Anh( Chị) hãy phân tích về sự kiện bất khả kháng và việc từ chối tiếp tục thực hiện hợp đồng mà Công ty A đưa ra.

3. Được biết trong hợp đồng các bên có thỏa thuận. Nếu có tranh chấp xãy ra hai bên chọn trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết. Cơ quan nào sẽ giải quyết?

4. Nếu đại diện cho B, Anh(chị) sẽ đưa ra yêu cầu phản tố nào? Được biết trong hợp đồng hai bên thỏa thuận mức phạt vi phạm hợp đồng là 20% và không thoả thuận điều khoản bồi thường thiệt hại

5. Nếu là người có thẩm quyên giải quyết, Anh(Chị) sẽ giải quyết vụ việc trên như thế nào? "

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật kinh doanh, giải quyết tranh chấp tại Tòa Án

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật dân sự 2005 

Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế 

Luật thương mại 2005 

2. Nội dung tư vấn

1 - Hợp đồng trên có hiệu lực chưa?

Căn cứ khoản 15, Điều 3 và khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại số 36/2005/QH10 ngày 14/6/2005 của Quốc hội quy định về hoạt động thương mại:

“Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.”

Hợp đồng mua bán là sự thoả thuận giữa các đương sự được thực hiện trên cơ sở bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương nhưng phải đảm bảo có các nội dung chủ yếu mà luật pháp đã quy định. Do đó Công ty có thể sử dụng bản fax là hình thức khác của hợp đồng mua bán. Hợp đồng fax là hợp đồng hợp pháp và có giá trị tương đương với văn bản.

Điều 4 Luật thương mại 2005 có quy định:

>> Xem thêm:  Không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì có phạm tội không?

"1. Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật thương mại và pháp luật có liên quan.

2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó.

3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự."

Theo đó, thì thời điểm hợp đồng thương mại có hiệu lực không được quy định trong LTM 2005 nên sẽ áp dụng thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo BLDS 2005. Điều 405 BLDS 2005 quy định Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Theo như thông tin bạn cung cấp thì Công ty TNHH thương mại A có trụ sở tại quận 1 Thành phố HCM ký hợp đồng bán hàng thủ công mỹ nghệ cho Công ty B có trụ sở tại Toronto, Canada thông qua Văn phòng đại diện của công ty này tại Việt Nam qua một hợp đồng bằng fax vào ngày 30 tháng 5 năm 2009. Hợp đồng này là hợp pháp nên có hiệu lực ngay sau ký 2 bên ký hợp đồng.

2 - Phân tích về sự kiện bất khả kháng và việc từ chối tiếp tục thực hiện hợp đồng mà Công ty A đưa ra.

 Luật thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về bất khả kháng. Tuy nhiên có đưa ra việc miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm khi xảy ra sự kiện bất khả kháng tại điểm b, khoản 1 Điều 294 LTM.

Sự kiện bất khả kháng là một thuật ngữ pháp lý được qui định trong pháp luật dân sự nói chung, để chỉ những việc xảy ra ngoài tầm kiểm soát và khả năng khắc phục của con người - Khoản 1 Điều 161 BLDS 2005. Theo qui định như vậy, kết luận như thế nào là sự kiện bất khả kháng rõ ràng ít nhiều phụ thuộc vào nhận định chủ quan của mỗi người, những bên gặp phải sự kiện bất khả kháng sẽ được miễn trách nhiệm bồi thường theo quy định tại Điều 302.2 BLDS 2005. Trên thực tế, chúng tôi thường thấy trong một số hợp đồng kinh tế, nhất là các hợp đồng mà một hoặc các bên tham gia là phía nước ngoài, họ thường định nghĩa và thỏa thuận khá chi tiết, cụ thể thế nào là các sự kiện bất khả kháng. Trong đó, thậm chí yếu tố tâm linh cũng có thể là sự kiện bất khả kháng.

Bạn có thể tham khảo Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp Quốc về mua bán hàng hóa quốc tế. Cụ thể như sau:

Công ước Viên quy định: “ Mỗi bên không phải chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu học chứng minh được rằng  việc không thực hiện đó là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính toán trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay khắc phục được các hậu quả của nó” ( Điều 79, khoản 1).

Các hình thức của sự kiện bất khả kháng có thể là:

>> Xem thêm:  Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi gây thiệt hại về tinh thần thì sẽ phải bồi thường ra sao ?

- Đình công hoặc bế xưởng để chống đình công hoặc các yêu sách  khác của công đoàn.

-  Bạo loạn, xâm lược, chiến tranh, đe dọa hoặc chuẩn bị chiến tranh

-  Hỏa hoạn, cháy nổ, bão lụt, động đất hoặc thiên tai

- Không thể sử dụng được các phương tiện giao thông vận tải cả cộng đồng lẫn tư nhân

- Do quyết định hoặc hành vi hành chính của chính quyền.

Điều kiện áp dụng điều khoản bất khả kháng

-   Thông báo kịp thời cho phía đối tác về sự kiện bất khả kháng và thiệt hại xảy ra

-    Chứng cứ về sự kiện bất khả kháng và thời hạn xuất trình

-   Chế tài thông báo chậm

-   Hạn chế thiệt hại do bất khả kháng

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng giữa bầu sô và ca sỹ ?

Hậu quả của bất khả kháng

-  Không đòi tiền phạt, tiền lãi, tiền bồi thường

-  Tạm đình chỉ thực hiện hợp đồng

-  Thương lượng về tổn thất

-  Đơn phương chấm dứt hợp đồng

-   Hủy bỏ hợp đồng

-  Đàm phán về sự tồn tại của hợp đồng.

Tại Khoản 4 Điều 7 CƯ Viên 1980 cũng quy định : " Bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải báo cáo cho bên kia biết về trở ngại và ảnh hưởng của nó đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ. Nếu thông báo không tới tay bên kia trong một thời hạn hợp lý từ khi bên không thực hiện nghĩa vụ đã biết hay đáng lẽ phải biết về trở ngại đó thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do việc bên kia không nhận được thông báo."

      Căn cứ theo pháp luật Việt Nam cũng như luật pháp Quốc tế và theo như thông tin mà bạn cung cấp thì công ty TNHH A đã Telex Thông báo cho công ty nước ngoài B vì sự kiện bất khả kháng đó là mưa lớn, thiếu nhiện liệu và giá cả tăng cao nên không thể giao hàng theo đúng hợp đồng được. Vì thế, chuyến hàng thứ 2 sẽ được giao vào ngày 30 tháng 7 năm 2009 và bên B đã đồng ý theo. Ta thấy việc bên A đã gia hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng theo Điều 298 LTM 2005 và thông báo kịp thời cho bên B về việc châm giao hàng theo hợp đồng là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật Quốc tế, nên bên A sẽ không phải chịu trách nhiệm với bên B về việc chậm giao hàng này.

      Tuy nhiên, Công ty TNHH A không hề có động thái gì và thực tế đã không tiến hành giao chuyến hàng thứ 2. Ngày 20 tháng 8, 2 bên gặp nhau để bàn bạc về việc thực hiện hợp đồng. A viện cớ rằng mình phải chịu những tổn thất do giá dầu tăng đề nghị tăng thêm 30% hợp đồng. B không chấp nhận yêu cầu này. Vì thế A muốn hủy bỏ hợp đồng vì lý do bất khả kháng và đòi được thanh toán tiền hàng cho chuyến hàng đầu tiên đã giao. Nếu công ty TNHH A muốn không thực hiện nghĩa vụ giao hàng của mình thì phải báo ngay cho công ty nước ngoài B về việc không tiếp tục giao hàng nhưng bên công ty A đã không hề thông báo gì cho công ty B cho đến ngày 20/8 hai bên gặp nhau công ty A mới nói mình phải chịu những tổn thất do giá xăng dầu tăng cao và đề nghị tăng 30% hợp đồng.  Việc Công ty A không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ giao hàng và đề nghị tăng 30% hợp đồng của công ty A là không đúng với quy định của pháp luật. Do đó, công ty A sẽ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do việc không giao hàng cũng như không thông báo thực hiện nghĩa vụ của mình.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản khi mức lãi suất quy định trong hợp đồng cao hơn quy định trong luật ?

Lưu ý: Công ước Viên chỉ áp dụng cho các nước là thành viên của Công ước này

3 - Cơ quan nào sẽ giải quyết?

Nếu như Công ty TNHH A và công ty nước ngoài B đã có thỏa thuận về việc xảy ra tranh chấp sẽ giải quyết theo pháp luật Việt Nam thì có thể giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án - Khoản 3 Điều 317 LTM và được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Tòa án do pháp luật quy định. Tuy nhiên thì trước khi đưa tranh chấp ra Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết thì hai bên có thể giải quyết bằng cách thương lượng hoặc hòa giải trước theo các quy định tại các Khoản 1, 2 Điều 317 LTM 2005.

4 - Nếu là Công ty nước ngoài B

Nếu là Công ty nước ngoài B thì cũng từ những căn cứ pháp luật nêu trên thì việc B đưa ra phản tố rằng sau khi gia hạn trách nhiệm thì Công ty TNHH A đã không thực hiện trách nhiệm của mình khiến họ phải chịu những tổn thất về mặt kinh tế. Đó là một phản tố đúng pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật Quốc tế và rất có lợi có B.

5 -  Nếu là người có thẩm quyền giải quyết

Về việc giải quyết thì tin chắc cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết thì cũng sẽ giải quyết theo đúng pháp luật tức là có lợi cho bên Công ty nước ngoài B vì rõ ràng trong vụ việc này Công ty TNHH A là bên vi phạm.

        Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật thương mại và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để quý khách hàng tham khảo.

       Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email  Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162 .

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng góp vốn xây dựng công trình ?

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp.

>> Xem thêm:  Phải làm sao khi đã thanh toán đủ tiền nhưng chủ đầu tư không thực hiện giao nhà ?