1. Xử lý hành vi vu oan người khác vay tiền ?

Thưa luật sư, tôi bị cô em vợ cũ vu oan là vay tiền không trả và cô ấy đã đến cơ quan tôi đang công tác gây sự và bôi nhọ danh dự của tôi tại cơ quan. Vậy xin luật sư tư vấn giúp tôi với hành vi như vậy có phải là xúc phạm danh dự người khác không ? Tội trạng như thế nào ?
Xin cảm ơn Luật Minh Khuê đã tư vấn!
Người hỏi: PV
Trả lời:
Khoản 1, Điều 20 Hiến pháp năm 2013 có quy định như sau:

Điều 20.

1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Khoản 1, Điều 34 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định như sau:

Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

Theo như những gì bạn nói, hành vi của cô em vợ cũ của bạn chính là đang xâm phạm đến danh dự của bạn, thể hiện ở việc cô ấy đã vu oan cho bạn rằng vay tiền mà không trả, tiếp đó là hành vi bôi nhọ danh dự của bạn tại cơ quan làm việc của bạn. Vụ việc này nên được giải quyết như sau:

Bạn làm đơn yêu cầu gửi cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan công an, tòa án nhân dân...) buộc cô em vợ chấm dứt hành vi vu oan, bôi nhọ danh dự của bạn, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm đến danh dự. Khi làm đơn yêu cầu bạn phải chứng minh rằng bạn không vay tiền mà không trả. Tức là chứng minh cho yêu cầu của bạn là có căn cứ và hợp pháp.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhận phẩm được Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Ngoài ra, hành vi của cô em vợ cũ của bạn tuỳ theo mức độ có thể bị xử lý hành chính hay hình sự như sau:

Xử lý hành chính theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP:

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

Hoặc bị truy cứu trách hình sự về tội làm nhục người khác theo Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy d, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%75.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% tr lên76;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trân trọng./.

2. Xử lý tiền nợ như thế nào ?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi mong Luật sư tư vấn giúp tôi: tôi hiện đảm nhiệm chức vụ Thủ quỹ cho công ty chuyên khai thác và xuất bán đá xây dựng. Anh A bên bộ phận bán hàng, trực tiếp xuất phiếu bán hàng và thu tiền mặt hằng ngày. Tuy nhiên anh A lại không nộp đầy đủ cho Thủ quỹ. Hiện tại số tiền anh A nợ Công ty từ tháng 3/2018 đến tháng 10/2018 lên tới 793.352.000 đồng. Anh A có viết giấy thừa nhận việc nợ tiền trên (có kí tên).
Vậy Luật sư cho tôi hỏi: Liệu chỉ căn cứ vào phiếu xuất hàng, những lần nộp tiền có chữ kí trong sổ, và giấy thừa nhận nợ tiền thì có thể xác định tội danh cho anh A không. Nếu đưa ra pháp luật, tôi (Thủ quỹ) và kế toán trưởng có phải chịu hoàn toàn trách nhiệm và đền bù số tiền trên không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư!

Trả lời:

Điều 177 và Điều 360 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định như sau:

Điều 177. Tội sử dụng trái phép tài sản

1. Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc dưới 500.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật105 nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 219 và106 Điều 220 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;

b) Tài sản là bảo vật quốc gia;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội sử dụng trái phép tài sản trị giá 1.500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 360. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào có chức vụ, quyền hạn vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 179, 308 và 376 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tng tỷ lệ tổn thương cơ thcủa những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương thcủa những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Căn cứ theo quy định trên thì nhân viên bán hàng đó có thể bị khép vào tội sử dụng trái phép tài sản. Còn bạn và kế toán trưởng có thể bị kết tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định trên. Thêm vào đó, bạn và kế toán trưởng cũng đồng thời có trách nhiệm đền bù thiệt hại cho công ty.

Những tài liệu giấy tờ như bạn trình bày có thể được coi là nguồn chứng cứ để chứng minh cho hành vi của người này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

3. Tư vấn về trách nhiệm hình sự khi không trả nợ ?

Kính chào Luật Minh Khuê. Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Cách đây vài tháng, người bạn của tôi có dẫn 1 người khác đến xin ở nhờ, tôi đã cho anh ta ở nhờ 1 tháng sau đó, anh ta nói nhà ở quê có việc, nên tôi cho mượn 200.000 đồng để anh ta về quê. Sau đó tôi đòi tiền nhưng anh ta không chịu trả. Tính tổng toàn bộ tiền ăn ở của anh ta, trong thời gian ở với tôi là gần 1 triệu đồng.
Vậy cho tôi hỏi, tôi có thể làm đơn tố cáo anh ta vì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ạ?
Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!
Người gửi: TV Anh

>> Xem thêm:  Mức thuế thu nhập cá nhân khi nhận thừa kế ? Tư vấn tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ?

Tư vấn về trách nhiệm trả nợ và trách nhiệm hình sự ?

Tư vấn xử lý hành vi lừa đảo tiền bạc, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội phạm này như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

Như vậy, hành vi của người vay tiền này chưa đủ cấu thành tội phạm quy định tại Điều 174 nêu trên. Vì vậy, bạn không thể tố cáo người đó về tội phạm này.

Thứ hai, Về hướng giải quyết:

Có hai vấn đề bạn cần làm rõ:

1. Việc cho ở nhờ:

Việc ở nhờ đã được bạn đồng ý dựa trên sự thỏa thuận của hai bên. Vì vậy, bạn không thể yêu cầu họ chi trả chi phí ăn ở khi ở nhờ.

2. Về việc trả nợ:

Căn cứ quy định tại Điều 474 Bộ Luật Dân Sự năm 2005 về nghĩa vụ trả nợ thì:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, để lấy lại tiền bạn đã cho vay bạn nên thỏa thuận với người đó về thời hạn trả nợ. Trường hợp người đó không trả thì bạn có thể khởi kiện dân sự.

Trân trọng./

4. Tư vấn về việc đòi nợ hợp pháp ?

Kính gửi đến quý Công ty luật Minh Khuê. Thưa quý công ty em đang có 1 vấn đề rất khó mong quý công ty có thể tư vấn giúp em ạ. Vốn là gia đình em có cho gia đình bà A mượn số tiền là 150 triệu với lãi suất là 8.0%/ tháng. Bà A đã trả 113 triệu còn lại 37 triệu. Sau khoảng thời gian hơn 2 năm bà A không trả gốc lẫn lãi nên gia đình em có nộp đơn nhờ xã giải quyết.

Bà A xin lãi suất xuống 4.0% và hứa sau khi bán đất được sẽ trả, gia đình em chấp nhận nhưng khi bán được đất bà A lại không chịu trả. Gia đình em đưa đơn lên huyện sau 2 lần xử huyện đã yêu cầu về thu thập mọi chứng cứ liên quan trong đó có giấy xác nhận do con của bà A viết tay là sẽ chịu trách nhiệm trả thay cho bà A. Nhưng khi toà đưa ra quyết định là trả theo lãi nhà nước buộc bà A phải trả 66 triệu tới khi thi hành án bà A nói tất cả tài sản thuộc về con cuả bà A nên không có khả năng trả và xin trả dần dần gia đình em không chấp nhận và yêu cầu con bà A trả thay thì thi hành án nói toà không chấp nhận giấy xác nhận do con của bà A viết nhưng trước đó tòa đã chấp nhận và giữ lại bản viết tay chính. Trong khi đó con cuả bà A lại sang tên nhà đất cho người khác.

Xin cho em hỏi toà xử như vậy có hợp lý không? Có cách nào để bà A trả trọn vẹn không? Và con cuả bà A sang tên có hợp pháp khi chưa quyết định cuối cùng hay không?

Em xin cảm ơn quý công ty nhiều ạ.

Người gửi: M.P

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất như thế nào ? Quyền định đoạt tài sản

Tư vấn về việc đòi nợ ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về việc đòi nợ, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Do thông tin bạn cung cấp chưa rõ dàng nên dựa vào những thông tin bạn cung cấp và quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, chúng tôi xin tư vấn như sau

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Theo quy định trên thì nghĩa vụ trả nợ số tiền cho bạn là nghĩa vụ của người vay tiền chứ không thuộc về người thân trong gia đình khi đến hạn trả nợ thì bà A phải trả đủ số tiền vay cho bạn như trong thảo thuận vay ban đầu ngoài ra khi đến hạn nếu bà A không trả hoặc trả không đầy đủ thì bà A phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Hiện bà A vẫ còn sống nên sẽ không phát sinh nghĩa vụ thừa kế tài sản và bà A cũng không tặng cho tài sản cho ngừoi con nên cũng không làm phát sinh thực hiên thay nghĩa vụ trả tiền vây trên. Như vậy việc tòa chấp nhận giấy xác nhận và giữ lại trước đó là để xem xét còn việc tòa tuyên giấy xác nhận người con chịu trách nhiệm trả tiền đó không phát sinh nghĩa vụ là hợp pháp.

Theo quy định tại điều 466 trên thì bà A có nghĩa vụ phải trả tiền đã vay tiền lãi và tiền lãi quá hạn theo lãi của nhà nước trường hợp nếu bà A không trả mà bà A còn tài sản riêng thì bạn có quyền lấy tài sản riêng đó tương xứng với số tiền bà đang nợ hoặc bà vẫn còn tài sản chung thì yêu cầu bà thực hiện chia tài sản chung để thức hiện nghĩa vụ trả nợ.Nếu trong trường họp bà không có khả năng trả nợ thì bạn sẽ hoàn toàn phải chịu rủi ro.

Trân trọng./.

5. Tư vấn trả nợ khi đã thông qua một giao dịch khác để che giấu ?

Thưa luật sư! tôi có vấn đề mong luật sư giải đáp như sau: Tôi có vay của chị Nhung số tiền là 50 triệu và tôi có chuyển lô cho chị ấy và tôi nợ chị ấy số tiền là 220 triệu tiền lô. Chị ấy gọi tôi đến nhà và nhờ người khác bắt tôi viết 2 giấy vay đều là 270 triệu 1. Giấy vay tiền 2. Giấy đưa tiền tôi mua SH nhưng tôi không mua và lấy tiền đó tiêu xài để quy tôi vào tội lừa đảo.

Tôi đã ghi âm lại hôm đó. 1 tháng sau chị ấy thuê đòi nợ đến nhà tôi nhưng bố mẹ tôi nói không có nhà giờ chị ấy kiện tôi liệu tôi có phải bị đi tù không? Và tôi có thể làm gì chị ta không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Xem thêm:  Trình tự thủ tục khởi kiện đòi lại tài sản thừa kế làm như thế nào ? Quyền quản lý tài sản thừa kế

Tư vấn về vấn đề đòi nợ ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, thì chị N đã cố tình quy cho bạn tội lừa đảo. Căn cứ Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì lừa đảo chiếm đoạt tài sản là:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

Một trong những yếu tố bắt buộc cấu thành nên tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là “thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác”, tức là người phạm tội có được tài sản thông qua việc sử dụng thủ đoạn gian dối (lừa dối) người bị hại. Đối với trường hợp của bạn, bạn có 50 triệu là thông qua hợp đồng vay tài sản với chị Nhung, hai bên hoàn toàn tự nguyện và không có dấu hiệu lừa dối ở đây. Khoản nợ 220 triệu là bạn nợ tiền lô chứ không phải tiền cho bạn vay để mua SH.

Như vậy, bạn nên thỏa thuận với chị Nhung đó lùi thời hạn trả nợ và bạn nên nhanh hóng trả số nợ cho chị Nhung kia. Nếu việc thỏa thuận không thành thì khi chị Nhung khởi kiện bạn. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án sẽ quyết định buộc bạn trả lại tiền cho chị Nhung. Nếu Tòa án đã ra quyết định về thời hạn trả tiền mà bạn phải trả.

Về việc bạn có thể làm gì với Chi Nhung, đối với hành vi của chị Nhung thì chị có thể bị xử lý một trong hai hình thức sau đây.

Thứ nhất xử phạt hành chính và sẽ căn cứ vào khoản 5, khoản 6 điều 26 Nghị định số 167/2013/ NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội;phòng cháy chữa cháy,phòng,chống bạo lực gia đình quy định như sau:

" 5. Phạt tin t 10.000.000 đng đến 20.000.000 đng đi vi mt trong nhng hành vi t chc đánh đề sau đây:

a) Làm chủ lô, đề;

b) Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề;

c) Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề;

d) Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tịch thu tiền do vi phạm hành chính mà có đối với hành vi quy định tại Khoản 1; Khoản 2; Điểm a Khoản 3; Điểm b, c, d Khoản 4 và Khoản 5 Điều này."

Như vậy theo thông tin mà bạn cung cấp thì chị Nhung rơi vào điểm a khoản 5 điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP và sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng và sẽ chịu thêm hình phạt bổ sung là tịch thu toàn bộ phương tiện sử dụng vào việc ghi lô, đề.

Thứ hai là xử lý hình sự theo quy định tại điều 322 về Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.

Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền Sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đng trở lên;

c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện đtrợ giúp cho việc đánh bạc;

đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương, tiện điện tử đphạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tuy nhiên, bạn cần lưu ý khi bạn tố cáo hành vi của chị Nhung thì bạn cũng là người tham gia gia đề cũng sẽ bị khởi tố vì tội đánh bạc và bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc. Vì vậy, bạn có thể lựa chọn giải quyết vụ việc theo hướng dân sự hay tố cáo vụ việc để được giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục phân chia di sản thừa kế như thế nào ? Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bao lâu ?