- Ngày 25/4/1994 cán bộ địa chính xã giao vị trí làm đất ở cho bà H, xóm 8 tại khu vực trường học bám đường B: “Số đo chiều Đông-Tây dài 19,5m, chiều Nam-Bắc dài 17,5m; Diện tích thửa đất 341 m2, trong đó: đất ở 200 m2, đất vườn 141 m2”.

Năm 1997 gia đình bà H làm 2 gian nhà cấp 4 trên thửa đất được UBND xã giao trong khu vực trường học.

Do thửa đất cấp cho bà H nằm trong khu vực trường học, nhân dân có ý kiến, UBND huyện B ban hành Thông báo 123/TB-UB ngày 1/1/1997 về việc giải quyết đơn thư của công dân xã A. (Có thông báo gửi kèm)

- Thực hiện Thông báo 123/TB-UB ngày 10/12/1997 của UBND huyện B về việc giải quyết đơn thư của công dân xã A. UBND xã A đã làm việc với gia đình bà H để chuyển đổi thửa đất. (Ông T con trai bà H, trực tiếp UBND xã để làm việc) (Có biên bản làm việc gửi kèm). Từ kết quả làm việc, căn cứ các quy định, UBND xã A đã ra thông báo số 12345/TB-UB ngày 09/8/1998 thông báo việc chuyển đổi giao đất ở, (Có thông báo gửi kèm).

+ Diện tích đất ở tại vị trí mới 200 m2 ở khu vực cữa hàng, đất hạng 1

+ Diện tích đất ở 200 m2 tại vị trí cũ khu vực trường học, đất hạng 3

+ Chênh lệch giá trị tiền đất là 2.000.000

+ Thửa đất mới tại khu vực cửa hàng cũ bám đường 537B được giao cho bà H từ chân đường đến giáp đường ngõ xóm ở phía Tây.

- Sau khi nhận thửa đất mới tại khu vực cữa hàng, gia đình sử dụng ổn định cho đến nay.

- Ngày 11/5/2012 các con đẻ của bà H (bà H tại thời điểm này đã chết) T1; T2; T3; T4; T5 đã làm văn bản phân chia tài sản thừa kế thửa đất ở tại khu vực cửa hàng (Thửa đất được chuyển đổi từ trong khu vực trường học đến), tức thửa số 989 tờ bản đồ 118-75 bản đồ địa chính, diện tích 200 m2 (đất ở 155 m2; đất hành lang giao thông 45 m2). “Nay anh em thống nhất giao thừa kế đất ở ổn định thửa số 989 tờ bản đồ 118-75 cho T5 với diện tích 200 m2 ở tại khu dân cư xóm 2, xã A”.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Xử lý tranh chấp quyền sở hữu nhà ở ?

- Ngày 30/4/2013 ông T5 đã làm đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 989 tờ bản đồ 118-75 diện tích 155 m2.

Ngày 09/10/2013 UBND huyện đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 255710 thửa số 989 tờ bản đồ 118-75 diện tích 155 m2, theo Quyết định số 3532/QĐ-UBND. Ông T5 sử dụng thửa đất ổn định cho đến nay.

- Số chênh lệch tiền đất 2.520.000 đồng (Hai triệu năm trăm hai mươi ngàn đồng) gia đình bà H chưa nộp cho UBND xã. UBND xã chưa hỗ trợ 2.520.000 đồng (Hai triệu năm trăm hai mươi ngàn đồng) cho gia đình bà H tháo dỡ, chuyển nhà.

- Sau khi chuyển đổi đất ngày 22/8/1998 cho đến khi bà H qua đời (Bà H chết tháng 2 năm 2012), bà H không có đơn kiến nghị gửi về UBND xã về nội dung chuyển đổi đất đang còn thiếu, xác định hạng đất không đúng, chưa hỗ trợ tiền làm nhà.

Cuối năm 2019 ông T, con trai bà H làm đơn đề nghị:

- Đề nghị UBND xã trả lại 186 m2 đất bám đường 537B xã chuyển đổi đang còn thiếu. (341 m2 – 155m2 = 186 m2)

- Giải quyết số tiền 2.520.000 đồng (Hai triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) bù giá đất do UBND xã tính sai hạng đất của thửa đất tại khu vực trường học

- Hỗ trợ tiền làm nhà cho gia đình ông T

Đề nghị Luật sư cho biết;

1. UBND xã A hiện nay có thẩm quyền để cấp cho ông Thực 186 m2 đất không (Theo thông báo 136 năm 1997 của UBND huyện)?

>> Xem thêm:  Việc xác định cơ quan giải quyết tranh chấp và chọn luật áp dụng đối với hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài

2. Ông T có quyền được làm đơn đề nghị giải quyết các nội dung nêu trên không?

( Mong sớm nhận được phản hồi)

CƠ SỞ PHÁP LÝ

Luật đất đai 199.3;

Luật đất đai 2013;

Nghị định 181/2004/NĐ-CP thi hành luật đất đai 200.3;

NỘI DUNG TƯ VẤN

Sự việc xảy ra vào năm 199.3, vì vậy các vấn đề diễn ra vào thời điểm đó chúng ta sẽ xem xét trên cơ sở quy định của Luật đất đai năm 199.3 và các văn bản hướng dẫn luật đất đai năm 199.3.

Ngày 10/02/1993 bà H, thôn 8, xã A làm giấy xin cấp đất ở. Sau khi gia đình nhà bà H thực hiện nộp đầy đủ tiền cấp đất. Đến ngày 25/4/1994 cán bộ địa chính xã giao vị trí làm đất ở cho bà H, xóm 8 tại khu vực trường học bám đường 537B: “Số đo chiều Đông-Tây dài 19,5m, chiều Nam-Bắc dài 17,5m; Diện tích thửa đất 341 m2, trong đó: đất ở 200 m2, đất vườn 141 m2”

=> Việc giao đất này được thể hiện bằng văn bản nào? xã có giao đủ 341 m2 không? Để xác định việc UBND xã giao đất có đúng hay không? Nội dung này chưa rõ. Nhưng ở phần dưới đây Luật Minh Khuê phân tích theo hướng gia đình nhà bà H được nhận thửa đất 341 m2 do UBND xã giao là đúng quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn tranh chấp dân sự và giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án

Do thửa đất cấp cho bà H nằm trong khu vực trường học, nhân dân có ý kiến, UBND huyện B ban hành Thông báo 136/TB-UB ngày 10/12/1997 về việc giải quyết đơn thư của công dân xã A. Dựa trên thông báo này, UBND xã A đã làm việc với gia đình bà H để chuyển đổi thửa đất. Từ kết quả làm việc, căn cứ các quy định, UBND xã A đã ra thông báo số 10/TB-UB ngày 22/8/1998 thông báo việc chuyển đổi giao đất ở. Thông báo này ghi nhận các nội dung sau:

Diện tích tiến hành chuyển đổi một suất đất nơi khác tương ứng theo khung giá 87 như sau:

+ Đất vị trí mới vùng cửa hàng là đất hạng 1: 200 m2

+ Đất vị trí cũ vùng trường học là đất hạng 3: 200m2

+ Chênh lệch giá trị tiền đất là 2.520.000 đồng (Hai triệu năm trăm hai mươi ngàn đồng).

Nội dung thông báo này cho thấy, UBND xã A chỉ ghi nhận việc đổi đất từ vị trí mới sang vị trí cũ là 200m2. Sau khi nhận thửa đất mới tại khu vực cửa hàng, gia đình sử dụng ổn định cho đến nay và không có bất kỳ khiếu nại nào. Có thể thấy rằng điều này chứng tỏ gia đình nhà bà H đã đồng ý với nội dung giải quyết về việc chuyển đổi đất theo thông báo số 10/TB-UB của UBND xã A.

Năm 2013, dựa trên sự thỏa thuận của các thành viên trong gia đình bà H, diện tích đất trên được giao cho ông T5 sử dụng: diện tích 200 m2 ở tại khu dân cư xóm 2, xã A đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 255710 thửa số 989 tờ bản đồ 118-75 diện tích 155 m2, theo Quyết định số 3532/QĐ-UBND. Ông T5 sử dụng thửa đất ổn định cho đến nay.

Ông T5 được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013. Do đó, hồ sơ trình tự thủ tục thực hiện theo Luật đất đai 200.3.

Điều 138 Luật đất đai 200.3, được hướng dẫn bởi Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP như sau:

“Điều 138. Giải quyết khiếu nại về đất đai

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế

1. Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

Quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại bao gồm:

a) Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;

b) Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư;

c) Cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

d) Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất.

2. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện như sau:

a) Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;

b) Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân;

c) Thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính đó. Trong thời hạn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn và giải quyết tranh chấp nội bộ doanh nghiệp

3. Việc giải quyết khiếu nại về đất đai quy định tại khoản 2 Điều này không bao gồm trường hợp khiếu nại về quyết định giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại khoản 2 Điều 136 của Luật này.

Theo quy định này, thời hiệu khiếu nại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 30 ngày. Như thông tin quý khách cung cấp, từ thời điểm ông Tặng được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/10/2013. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 11111111, thửa số 1, tờ bản đồ 11 diện tích 155 m2, theo Quyết định số 32/QĐ-UBND. Ông T5 sử dụng ổn định, lâu dài từ đó đến nay. Như vậy, có thể thấy ông T5 hoàn toàn đồng ý với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Đến này, theo quy định này thì thởi điểm khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã hết theo quy định trên.

Hơn nữa, từ khi chuyển đổi đất ngày 22/8/1998 cho đến khi bà H qua đời (Bà H chết tháng 2 năm 2012), bà H không có đơn kiến nghị gửi về UBND xã về nội dung chuyển đổi đất đang còn thiếu, xác định hạng đất không đúng, chưa hỗ trợ tiền làm nhà. Bà H chính là người được Nhà nước thực hiện việc cấp đất cũng như chuyển đổi đất. Tuy nhiên, trong suốt quá trình sinh sống cùng như sự kiện chuyển đổi đất diễn ra trong thời gian bà đang sống, bà cũng không có ý kiến nào liên quan đến các nội dung chuyển đổi đất còn thiếu cũng như về tiền hỗ trợ tiền làm nhà. Có thể thấy, bản thân bà H đã đồng ý với việc chuyển đổi và không có ý kiến gì.

Qua sự phân tích trên, Luật Minh Khuê sẽ trả lời từng câu hỏi vướng mắc của quý khách hàng:

1. UBND xã A hiện nay có thẩm quyền để cấp cho ông T5 186 m2 đất không (Theo thông báo 136 năm 1997 của UBND huyện)?

Trả lời

Sự việc quý khách đã kéo dài đến thời điểm hiện tại. Do đó, để giải quyết câu hỏi này Luật Minh Khuê sẽ dựa trên quy định của Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn luật đất đai 2013 để giải đáp vướng mắc của quý khách.

Điều 59 Luật đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của các cơ quan nhà nước như sau:

“1.Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây (không được ủy quyền):

a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức;

>> Xem thêm:  Hợp đồng chuyển nhượng đất đai thế nào là hợp pháp ?

b) Giao đất đối với cơ sở tôn giáo;

c) Giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật;

d) Cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật

đ) Cho thuê đất đối với tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.

2.Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây (không được ủy quyền):

a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định;

b) Giao đất đối với cộng đồng dân cư.

3.Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn."

Theo quy định trên, Ủy ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền giao đất. Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ có quyền cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

Vì vậy, vào thời điểm hiện nay UBND xã A không có thẩm quyền để cấp cho ông Thực 186 m2 đất.

>> Xem thêm:  Vướng mắc về đất nông nghiệp đã hết thời hạn và vấn đề mua bán, chuyển nhượng đất ?

2. Ông Thực có quyền được làm đơn đề nghị giải quyết các nội dung nêu trên không?

Như đã phân tích ở phần trên, diện tích đất 341 m2 là cấp cho bà H. Hiện nay, bà H đã chết. từ khi chuyển đổi đất ngày 22/8/1998 cho đến khi bà H qua đời (Bà H chết tháng 2 năm 2012), bà H không có đơn kiến nghị gửi về UBND xã về nội dung chuyển đổi đất đang còn thiếu, xác định hạng đất không đúng, chưa hỗ trợ tiền làm nhà. Hơn nữa, diện tích đất khi chuyển đổi cho bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T5 (ngày 09/10/2013.)

Quyền đề nghị là quyền của công dân, cụ thể trong luật khiếu nại 2011 quy định Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp 2013 cũng quy định: Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Do đó, Ông T hoàn toàn có quyền làm đơn đề nghị UBND xã A giải quyết nội dung yêu cầu của ông. Tuy nhiên, ông T có quyền đề nghị nhưng không đồng nghĩa với yêu cầu đề nghị của ông T là có căn cứ.

Khi nhận được để nghị của ông T, UBND xã A phải căn cứ vào hồ sơ, giấy tờ và các quy định hiện nay để giải quyết yêu cầu của ông T. Theo quan điểm của Luật Minh Khuê, đối với yêu cầu này của ông T UBND xã không có thẩm quyền cấp cho ông Th 186 m2 đất mà chỉ có quyền đề xuất việc cấp đất cho ông T nếu phù hợp với quy hoạch của địa phương như: giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất...

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn đất đai”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu sổ theo dõi giải quyết tranh chấp (Mẫu số 26/TP-TTTM)

>> Xem thêm:  Xuất hóa đơn chuyển quyền sử dụng đất khi công ty không có ngành nghề kinh doanh chuyển nhượng đất hay bất động sản thì có xuất hóa đơn được không ?