NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Sản phẩm Azithromycin- một trong các kháng sinh bán chạy nhất thế giới:
Tiềm năng chưa được đánh thức cho một loại dược phẩm mới đã dần đến việc Pfizer ký kết hợp đồng li-xăng cùng có lợi với công ty nắm giữ bằng độc quyền sáng chế là Pliva của Croatia. Nigel Kegan, một nhà phân tích tại Viện Nghiên cứu châu Âu Daivva ở Luân Đôn, đã ước tính rằng tiền thù lao và lãi suất bán buôn azithromycin cho Pfizer chiếm trên 75% lãi của Pliva năm 1999. Pliva, công ty làm ăn lãi nhất ở Croatia và là công ty dược phẩm lớn nhất ở Trung Âu, được thừa nhận rộng rãi là công ty đa quốc gia đầu tiên trưởng thành tại quê hương ở khu vực Trung Âu. Công ty này đã được ghi danh tại Thị trường Chứng khoán Luân Đôn năm 1996. Do sự thành công đầy ấn tượng của mình, nhiều người khó tưởng tượng được là Pliva đã có một thời chật vật. Tất cả những cái đó đã thay đổi và vận hội của công ty này đã chứng kiến một bước ngoặt đột ngột sau khi công ty khám phá ra azithromycin. Hiện nay, azithromycin là loại thuốc kháng sinh bán chạy nhất thế giới. Bằng độc quyền sáng chế đã được cấp cho Pliva hàm 1980, loại thuốc này sau đó đã được li xăng Xho Pfizer bán ra thị trường với tên Zithroma. Doanh số bán Zithromax đã vượt quá 1 tỷ USD trong năm vừa qua và dự kiến sẽ còn gia tăng, khoản thu nhập đáng kinh ngạc từ thỏa thuận li-xăng đã tạo điều kiện cho Pliva nhanh chóng mở rộng thị trường ra khắp Croatia, Ba tan yà Ngà. Đáng lưu ý là tất cả những điều này đã xảy ra chuyện các nhà khoa học của Pfizer tình cờ phát hiện ra bằng độc quyền sáng chế của Plivavqo năm 1981 trong khi tra cứu các tư liệu bằng độc quyền sáng chế tại USPTO.
2. Vai trò của các cơ quan sở hữu trí tuệ
Vai trò của các cơ quan sở hữu trí tuệ trong thúc đẩy sử dụng cơ sở dữ liệu bằng độc quyền sáng chế phục vụ chuyển giao công nghệ:
Với chi phí R&D đang leo thang, sự thay đổi công nghệ nhanh chóng và chu kỳ sản phẩm ngắn lại, ý tưởng cho rằng có thể thụ đắc hoặc nhận li-xăng công nghệ thay vì lặp lại sáng chế ngày càng được theo đuổi nhiều hơn. Việc khai thác mỏ bằng độc quyền sáng chế này thường có kết quả tốt nhất khi công ty định vị được những công nghệ bổ sung hoặc liên quan đến hoạt động kinh doanh trọng tâm của mình. Trong trường hợp đó, công ty tiến hành tra cứu có thể có vị trí tuyệt vời để đánh giá bằng độc quyền sáng chế, phát triển nó và đưa nó ra thị trường theo những cách thức mà người chủ đã không thể làm được. Chủ sở hữu nhiều khi sẫn sàng li-xăng hoặc chuyển nhượng bằng độc quyền sáng chế vì một số lý do. Như được thảo luận ở trên, thị trường theo khu vực địa lý hoặc theo ngành có thể không hấp dẫn đối với chủ sở hữu. Trong một số trường hợp, có thể chủ sở hữu đã phát triển ra một sáng chế chỉ để thấy sáng chế đó không phù hợp với kế hoạch kinh doanh hiện tại của công ty mình. Trong những trương hợp khác, có thể chủ sở hữu đã khai thác sáng chế nhưng không khai thác tiếp nữa vì sáng chế hoặc các cách tiếp cận sản phẩm mới đã thế chỗ sáng chế cũ. Một kết quả khảo sát đã cho biết 67% số công ty Hoa Kỳ sở hữu những tài sản công nghệ mà họ không khai thác được (ước tính tới 115 tỷ đến 1 nghìn tỷ USD). Cuộc khảo sát ước tính có khoảng 100 tỷ USD được tích lại trong những đổi mới nhàn rỗi thuộc danh mục SHTT của các công ty lớn.12 Thay vì để cho sáng chế làm tăng thêm chi phí duy trì hiệu lực cho nó, công ty có thể rao bán hoặc li-xăng sáng chế đó. Việc duy trì hiệu lực cho những bằng độc quyền sáng chế không được áp dụng có thể tốn kém và trung bình "tuổi thọ có hiệu lực" của một bằng độc quyền sáng chế trước khi bị từ bỏ là 5 năm. Chỉ có 37% số bằng độc quyền sáng chế được duy trì hiệu lực cho đến hết thời hạn hiệu lực của chúng.
Để thể hiện vai trò mở rộng của các cơ quan bằng độc quyền sáng chế trong nền kinh tể dựa trên tri thức, một số cơ quan bằng độc quyền sáng chế như Cơ quan SHTT (IPO) Sing-ga-po đang hỗ trợ ngành công nghiệp và viện nghiên cứu trong nước bằng việc cung cấp những dịch vụ phụ, bao gồm việc xác định các lĩnh vực công nghệ chiến lược, nghiên cứu công nghệ và thị trường, lập bản đồ và tra cứu bằng độc quyền sáng chế, quản lý SHTT bản đồ lưu thông công nghệ và sản phẩm, cũng như đánh giá công nghệ và thị trường. IPO hiện nay có thêm một vai trò nữa: hoạt động như những trung tâm thông tin công nghệ.
3. Bằng độc quyền sáng chế trong vai trò tác nhân kích thích R&D
Các nhà hoạch định chính sách đã được khuyến khích bởi kết luận của các nhà kinh tế rằng tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của một nươc chịu sự ảnh hưởng của chính sách về SHTT của chính phủ . Sự thừa nhận gần đây về tầm quan trọng vốn có trong "lý thuyết tăng trưởng nội sinh" (rằng chính sách kinh tế và các nhân tố bên ngoài có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế) gợi ý rằng chính phủ cần ưu tiên nhiều hơn cho các chính sách thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, kỹ thuật và tạo cơ sở vững chắc cho công nghệ bản địa, chứ không phải công nghệ nhập khẩu. Nói tóm lại, mặt có triển vọng của lý thuyết tăng trưởng kinh tế này là các nhà hoạch định chính sách có thể tạo ra thay đổi trong phát triển kinh tế bằng cách sử dụng các công cụ sẵn có, trong đó có chính sách về bằng độc quyền sáng chế.
Trong những thập kỷ trước, nhiều nước đang phát triển đã nhận thức rằng việc chuyển giao công nghệ từ những nước khác có tác động không đáng kể đến việc tạo ra nền móng cho việc phát triển một nền công nghiệp được gọi là công nghiệp tri thức, trừ khi việc chuyển giao đó được bổ sung bằng một cơ chế tạo động lực cho giới nghiên cứu, kỹ sư, doanh nhân và những nhà đổi mới khác ở trong nước sử dụng chuyển giao như một bàn đạp để tạo ra tri thức mới. Đối với các nước đang phát triển, chỉ việc kêu gọi doanh nghiệp công nghệ nước ngoài vào đầu tư và sản xuất là chưa đủ; chuyển giao công nghệ chỉ riêng từ các dự án như vậy có thể nhỏ. Nói cách khác, lợi ích từ chuyển giao công nghệ không phái là kết quả đương nhiên. Chuyển giao công nghệ có hiệu quả là một quá trình tiếp diễn liên tục phải có sự tham gia tích cực trong nước.
SHTT khởi động quá trình này như thế nào? Có thể tìm thấy một phần câu trả lời trong việc phát triển những sản phẩm và công nghệ trong nước ("phát triển bản địa") và một trong số cách thức diễn ra sự phát triển đó, đặc biệt ở các nước đang phát triển, là chuyển giao công nghệ từ trường đại học và viện nghiên cứu công cho khu vực tư nhân dưới dạng SHTT. Ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, chính các cơ sở nghiên cứu và học viện công lập là nguồn cung cấp tri thức hàng đầu. Nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng thường được tiến hành theo các dự án nghiên cứu do chính phủ tài trợ và do khoa của trương đại học lãnh đạo, trong lĩnh vực hoá học, dược, chế tạo máy, vật lý và các nghành khoa học, kỹ thuật khác. Điểu tới quan trọng đối với những người hoạch định chính sách là thiết lập được một khuôn khổ trong đó SHTT có tác dụng khuyến khích các viện nghiên cứu chuyển giao và khai thác tri thức, thông qua việc gắn kết các nỗ lực công và giới khoa học với các nỗ lực của khu vực thương mại.
4. Hỗ trợ trường đại học trong vai trò trung tâm đổi mới:
Trong suốt quá trình lịch sử và ở mọi quốc gia, học sinh, giảng viên tại trương học, trường đại học và trung tâm nghiên cứu đã là nòng cốt của hoạt động có quy mô toàn quốc về văn hoá, khoa học và trí tuệ. Những xã hội năng động, phát triển ủng hộ những cá nhân, tổ chức này và được đền đáp lại bằng nền văn hoá, ý tưởng quan trọng, tiến bộ khoa học, sự phát triển vốn nhân lực và phát triển những phương pháp, hệ thống kỹ thuật mới, hữu ích.
Công việc chủ yếu của trương đại học là giảng dạy và nghiên cứu, nhưng trong phạm vi mà hoạt động trí tuệ phong phú tại các trường đại học và các trung tâm nghiên cứu cũng được ứng dụng để giải quyết các vấn đề thực tiễn thì công việc đó cũng hỗ trợ và nuôi dưỡng chu trình sáng tạo và phát triển kinh tế, như được mô tả ở phần trên của Nội dung này. Ở các nước đang phát triển, mới quan hệ giữa công việc nghiên cứu nói trên trong trường đại học và sự phát triển kinh tế quốc gia có tầm quan trọng đặc biệt, vì sự khan hiếm nguồn lực R&D trong khu vực thương mại, cũng như sự tương đối thiếu váng của nguồn đầu tư nước ngoài vào khu vực công nghệ.
5. R&D thuộc khu vực công trong thế giới phát triển
Ở các nước đang phát triển, Chương trình nghiên cứu được tài trợ chủ yếu bởi khu vực công hoặc trường đại học (hầu hết là trường công), nhưng sự tài trợ này thường không đủ và tỷ lệ phần trăm chi tiêu cho R&D toàn cầu của các nươc đang phát triển đang tiếp tục sụt giảm,15 phần lớn là do thiếu nguồn lực công có thể sử dụng được. Hiện nay, ước tính các nước phát triển chiếm khoảng 96% khoản chi tiêu đó. Sự đầu tư đáng kể trong nước là điều cần thiết để gia tăng những nỗ lực nghiên cứu và một cách tiếp cận có triển vọng nhằm cải thiện tình hình đó là thông qua FDI và quan hệ đối tác với khu vực tư nhân mà việc tăng cường pháp luật SHTT là một trong những cách thức có tác dụng khuyến khích rõ nét. Bởi vậy, khi những nỗ lực R&D trong khu vực công sự giảm thì cần đến quyền SHTT mạnh hơn để gia tăng tài trợ tư nhân trong lĩnh vực này, hoặc để tăng lợi nhuận từ sản phẩm và dịch vụ đạt được kết quả trong thương mại, có sử dụng kết quả nghiên cứu để đầu tư tiếp cho R&D.
Nghiên cứu cơ bản đòi hỏi thời gian dài hơn, đó là lý do giải thích tại sao loại nghiên cứu này thường phải được khu vực công hỗ trợ và tại sao loại nghiên cứu này không phát triển được ở những nơi không được hưởng sự hỗ trợ như vậy. Hơn nữa sự hỗ trợ của khu vực công cho những hoạt động R&D dài hạn hơn có thể ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt do vòng đời của sản phẩm ngắn lại buộc các công ty phải chấp nhận tầm nhìn ngày càng ngắn hạn hơn trong việc cơ cấu các hoạt động nghiên cứu của mình.
Một sự lãng phí đau lòng là có một khối lượng lớn tiến bộ khoa học và công nghệ trong trường đại học và viện nghiên cứu công không được sử dụng, chỉ một số được xem như những thành tựu mang tính hàn lâm, đặc biệt khi công quỹ đã chi những khoản tiền đáng kể để hỗ trợ cho việc nghiên cứu đó. Vậy có điều gì không ổn? vấn đề chủ yếu là những nỗ lực nghiên cứu không được gắn kết với việc ứng dụng thương mại của các kết quả nghiên cứu. Thành công thương mại phụ thuộc rất nhiều vào hành động tiếp theo của kinh doanh và công nghiệp. Không có sự tham gia mật thiết của khu vực thương mại, các tổ chức nghiên cứu chỉ thu được rất ít lợi nhuận. Điều đó gây lãng phí cho quỹ đầu tư nghiên cứu và tạo ra một chu trình mang tính hệ thống, luẩn quẩn của sự suy giảm lợi nhuận. Chính sách của chính phủ cần khuyến khích sự cộng tác và hợp tác giữa các học viện, viện nghiên cứu và ngành công nghiệp, thông qua li-xăng cũng như những hình thức chuyển giao công nghệ khác, thông qua hoạt động nghiên cứu chung và chia sẻ kinh nghiệm.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!