1. Khái quát chung

Để làm rõ khái niệm về KSĐT vụ án hình sự của VKSND cấp huyện trước hết là làm rõ về thẩm quyền. Viện  kiểm  sát nhân  dân cấp  huyện  thực hiện kiểm sát điều tra vụ án hình sự theo phạm vi quyền năng pháp lý do pháp luật quy định. Với vai trò là một cấp thực hiện, thẩm quyền thực hiện của VKSND cấp huyện được phân theo địa giới hành chính.
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có thẩm quyền kiểm sát điều tra đối với các vụ án theo thẩm quyền xét xử của tòa án  nhân  dân cấp  huyện  và  tương ứng với thẩm quyền điều  tra của Cơ  quan cảnh sát điều  tra trong công an nhân dân cấp huyện. Thẩm quyền kiểm sát  điều tra tuân theo  3 tiêu  chí:  theo hệ thống  tổ  chức  cơ quan Viện kiểm sát, theo  lãnh thổ  và theo  cấp đơn vị hành chính.
Nguyên tắc thứ nhất là  thẩm  quyền  kiểm  sát điều tra tuân theo  quy tắc tổ chức của hệ thống cơ quan viện kiểm sát. Viện  kiểm sát phân thành hai  nhánh hệ thống là Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự, trong đó Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát điều tra đối với các vụ án hình sự do Cơ quan cảnh sát điều tra trong công an nhân dân điều tra, đó là mọi tội phạm trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan an ninh điều tra và cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân.
Cơ quan điều tra của quân đội nhân dân điều tra các vụ án mà trong đó bị can hoặc bị hại là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập  trung huấn luyện  hoặc  kiểm tra  tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân; Hoặc liên quan đến bí mật quân sự; Hoặc tội phạm xảy ra trong trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ, khu vực thiết quân luật.
Nguyên tắc thứ hai là  thẩm  quyền  kiểm sát điều tra phân theo  cấp  đơn vị hành chính. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện kiểm sát điều tra đối với các tội phạm do cơ quan cảnh sát điều tra công an nhân dân cấp huyện điều tra, đó là mọi tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng,  rất  nghiêm  trọng,  không  có tình tiết phức tạp, không  có  yếu tố  nước  ngoài,  không gây dư luận lớn trong xã hội. Ngoài ra các  tội phạm này phải không thuộc  thẩm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều tra và và Cơ quan điều tra VKSNDTC. Các tội phạm do  cơ quan an ninh  điều tra trong công an nhân dân gồm các  tội phạm quy định  tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia), Chương XXVI (các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh) và các tội phạm quy định tại các điều 207 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển,  lưu  hành tiền  giả);  Điều 208 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển nhượng giả, các giấy tờ có giá giả khác); Điều 282 Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; Điều  283 Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng  không  của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 284 Tội điều khiển phương tiện  hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ  nghĩa Việt Nam; Điều 299 Tội khủng bố; Điều 300 Tội tài trợ khủng bố; Điều 303 Tội phá hủy công trình, cơ  sở,  phương  tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Điều 304 Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng,  mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ  thuật  quân sự; Điều  305  Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng,  mua  bán trái phép  hoặc  chiếm đoạt vật liệu nổ; Điều 309 Tội sản xuất,  tàng  trữ, vận chuyển, sử dụng, phát  tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt  chất  phóng  xạ,  vật  liệu  hạt  nhân; Điều 337 Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước; Điều 338 Tội vô  ý làm lộ  bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật  nhà  nước; Điều  347  Tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội ở lại Việt Nam trái phép; Điều 348 Tội tổ  chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép; Điều 349 Tội tổ chức, môi giới cho  người  khác  trốn  đi nước  ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép; Điều 350. Tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép của Bộ  luật  Hình sự, do đặc  thù của những tội phạm xâm hại an ninh quốc gia xảy ra ít và thường có mức độ nguy hiểm rất lớn nên cơ quan an ninh điều tra không có ở cấp huyện mà do công an cấp tỉnh phụ trách.
Cơ quan điều tra VKSNDTC có thẩm quyền điều tra tội  phạm  xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định  tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật Hình sự xảy  ra trong hoạt  động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành  hoạt động tư pháp.
Nguyên tắc thứ ba là thẩm quyền kiểm sát điều tra theo lãnh thổ. Vụ án hình sự xảy ra trong lãnh thổ của huyện nào thì VKSND huyện đó thực hiện Kiểm sát điều tra. Trong trường hợp tội phạm được  thực  hiện  tại nhiều  nơi khác nhau hoặc không xác định  được  địa  điểm xảy ra tội phạm thì  việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện  tội phạm,  nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.
Từ ba nguyên tắc  trên có thể thấy rằng thẩm quyền điều tra của Viện  kiểm sát nhân dân cấp huyện được xác định theo thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra trong công an nhân dân cấp huyện và phụ thuộc vào sự phân loại tội phạm. Đây cũng là một trong những đặc trưng cơ bản của hoạt động kiểm sát điều tra. Tuy nhiên, về tổng thể,  xuyên  suốt toàn bộ  tố  tụng hình sự, thì quy định về thẩm quyền của Toà án mới là quy định mang tính  mốc, chuẩn cho việc xác định thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng khác, bao gồm cả Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.
Dựa vào thẩm quyền và những đặc  điểm  của KSĐT vụ án hình sự đã nêu ở phần 1.1 có thể rút ra  khái niệm về kiểm sát điều tra của viện kiểm sát nhân dân cấp huyện như sau: Kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp huyện là việc Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện sử dụng quyền năng pháp lý theo thẩm quyền của mình thực hiện việc  theo  dõi, đánh giá hoạt động điều tra của cơ quan, người tiến hành điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nhằm kịp thời phát hiện và khắc phục các vi phạm pháp luật, bảo đảm tính hợp pháp của các hoạt động điều tra và bảo vệ sự thật khách quan của vụ án.

2. Đặc điểm của kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Từ khái niệm trên và đặc điểm chung của KSĐT vụ án hình sự đã nêu tại phần 1.2 có thể rút ra đặc điểm của kiểm sát điều tra vụ án hình sự như sau:

2.1 KSĐT vụ án hình sự của VKSND cấp huyện mang đầy đủ các đặc điểm của KSĐT nói chung

đã được phân tích tại mục 1.1.1 gồm: KSĐT là quyền năng chỉ thuộc về duy nhất cơ quan Viện kiểm  sát và mang tính quyền lực nhà nước, do pháp luật quy định; kiểm sát điều tra bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi cơ quan điều tra ban hành Bản kết  luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ vụ án hình sự; KSĐT  thực hiện bằng quyền yêu cầu và quyền kiến nghị;  KSĐT nhằm mục  đích là đảm bảo các hoạt động trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được thực hiện theo đúng pháp luật, khách quan và đúng đắn; Đảm bảo phát  hiện  và xử lý,  khắc phục kịp thời các vi phạm pháp luật.

2.2 Về tính chất các loại tội phạm 

Thứ nhất, về tính chất các loại tội phạm mà VKSND  cấp  huyện  kiểm  sát điều tra theo thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp huyện đối với các loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng mà  có  tình tiết  không quá phức tạp, không gây dư luận xã hội lớn, không có yếu tố  nước  ngoài, không thuộc các trường hợp cơ quan điều tra cấp trên lấy lên để điều tra. Nói cách khác, tính chất vụ án hình sự do cấp huyện kiểm sát điều tra có hai đặc điểm: đặc điểm về loại tội phạm phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng,  rất nghiêm trọng), đặc điểm về tính chất thực hiện tội phạm (đơn giản, ít có  mối liên hệ với tỉnh, huyện khác hoặc quốc gia khác).

2.3 Về chủ thể kiểm sát

Thứ hai, về chủ thể kiểm sát là Kiểm sát viên, kiểm tra viên do Viện  trưởng VKSND cấp huyện phân công, đó là người có chức danh tư pháp tiến hành tố tụng của cơ quan VKSND. Cụ thể kiểm sát viên tiến hành tố  tụng là  kiểm sát viên sơ cấp phù hợp với tính chất, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân  dân cấp huyện; bảo đảm tuân theo sự phân hóa đội ngũ Kiểm sát viên về năng lực, trình độ, chuyên  môn.  Kiểm sát viên sơ cấp  có quyền hạn kiểm sát điều  tra đối với các vụ án hình  sự thuộc  loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng.  Kiểm  tra viên là  một chức  danh tư pháp  trong tiến hành tố tụng, tuy nhiên chỉ có vai trò giúp việc cho  Kiểm  sát viên trong công tác Kiểm sát điều tra nếu được Lãnh đạo Viện phân công.

2.4 Về đối tượng kiểm sát

Thứ ba, đối tượng kiểm sát của VKSND cấp huyện là: (i) hoạt động của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong địa bàn huyện. Đây là những cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương, không có chức năng chuyên trách về điều tra, họ chỉ tiến hành điều tra trong những trường hợp nhất định do pháp luật quy định; (ii) Điều tra viên và Cán bộ điều tra của các cơ quan tiến hành điều tra nêu trên. Xuất  phát từ mô  hình kim  tự tháp nêu  trên, số lượng án của cấp huyện là lớn nhất và như vậy,  VKSND cấp huyện cũng sẽ kiểm sát điều tra với số lượng đối tượng kiểm sát nhiều nhất.

2.5 Về tính chất kiểm sát

Thứ tư, về tính chất kiểm sát: Đối với các vụ án thuộc thẩm quyền kiểm sát thường có sự ít phức tạp, các cơ quan tiến hành tố tụng dễ dàng trao đổi và phối hợp trong quá trình giải quyết vụ án. Hoạt động kiểm sát diễn ra trong phạm vi nhỏ hẹp, trong đó đối tượng bị kiểm sát là  cơ quan tiến hành điều tra  tại một đơn vị hành chính địa phương cấp huyện,  mối quan  hệ  giữa  người kiểm sát và người bị kiểm sát có sự quen biết xã hội. Vì vậy  mà  hoạt  động kiểm sát rất linh hoạt và chủ yếu thực hiện quyền yêu  cầu qua phương thức  bằng lời nói.

3. Vai trò kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp huyện

Giai đoạn điều tra là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong giai đoạn này cơ quan có thẩm quyền điều tra được phép sử dụng toàn bộ những hoạt động điều tra được  BLTTHS  quy định để giải quyết vụ án. Bởi quyền năng của cơ  quan  tiến  hành  điều  tra trong giai đoạn là xác định tội phạm và người thực  hiện  hành  vi  phạm  tội,  mỗi hoạt động điều tra của cơ quan tiến hành điều tra đều ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án, vì vậy kiểm sát điều tra có vai trò giới hạn quyền năng của cơ quan điều tra, điều chỉnh các hoạt động điều tra tuân thủ  theo  quy định của pháp luật, tránh sự lạm quyền của người tiến hành  điều  tra.  Cần khẳng  định rằng mọi hoạt động điều tra không  tuân  theo  quy định pháp  thì  kết quả điều tra đó không có giá trị trong việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát điều tra là bảo vệ  đầu mối của vụ  án hình sự. Trong thực  tế các vụ án hình sự chủ yếu do cơ quan điều tra cấp huyện  điều  tra  (tội ít nghiêm trọng, nghiêm  trọng  và rất nghiêm trọng), cơ quan điều tra cấp huyện là chủ thể tiếp nhận và tiếp xúc đầu tiên với vụ án hình sự, phải phát hiện, thu thập chứng cứ, định hướng để dần tìm ra tình tiết của vụ án, các quyết đinh, hành vi tố tụng được ban hành, thực thi trong bối cảnh cần nhanh chóng, khẩn trương, nên thiếu thời gian để bảo đảm tính có căn cứ của việc ban hành, thực thi. Ngoài ra, nhiều tội phạm đặc biệt nghiêm trọng lúc đầu CQĐT cấp huyện chưa thể xác định chính xác loại tội phạm mà đã tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ ban đầu, những hoạt động này có thể vô tình làm mất đi chứng cứ vật chất để chứng minh tội phạm có mức độ nghiêm trọng hơn. Bên cạnh đó là sự bố trí nhân lực của cơ quan tiến hành điều tra cấp huyện còn hạn chế về số lượng và chất lượng.  Khi tiến hành điều tra,  mọi hoạt động điều tra do một Điều tra viên chỉ đạo nhưng người trực tiếp làm là các cán bộ điều tra, trong khi ở cấp huyện cán bộ điều tra thường là những người trẻ, mới ra trường, ít kinh nghiệm thực tiễn, trong khi  việc  điều  tra  yêu  cầu  phải  thực hiện nhanh chóng, cấp bách nên  khó  tránh được những sai lầm.  Vì  vậy kiểm sát điều tra không chỉ là có vai trò thay mặt nhà  nước  giám sát mà còn có vai trò định hướng trong hoạt động điều tra để không bỏ xót những  chứng cứ chứng minh tội phạm.
Giai đoạn điều tra chưa có sự hiện diện của tòa án, chưa có sự hiện diện đầy đủ của yếu tố tranh tụng, việc tìm kiếm chứng cứ buộc  tội hay gỡ tội chỉ  do từ một phía cơ quan tiến hành điều tra. Bên cạnh đó là trong một đơn vị hành chính cấp huyện (đặc biệt là ở các vùng  sâu vùng  xa,  nông thôn chưa phát triển) thì sự phối hợp, trao đổi, liên hệ giữa các cơ quan đoàn thể mang  tính linh hoạt và khép kín cao, ít nhiều phụ thuộc vào các mối quan hệ với  chính quyền và các cơ quan, tổ chức tại địa phương,  đôi khi còn bị chi phối bởi quan điểm của chính quyền địa phương dễ dẫn đến sự lạm quyền của CQĐT và vi phạm quyền của người tham gia tố tụng. Vì  vậy khi thực  hiện  kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát sẽ là cơ quan chủ động nhất quán với cơ quan điều tra để giải quyết vụ án hình sự đảm bảo thực hiện đúng tố tụng hình sự, không làm oan, sai, bỏ lọt tội phạm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê