Mục lục bài viết
- 1. Khái quát chung
- 2. Đặc điểm của kiểm sát điều tra vụ án hình sự
- 2.1 KSĐT vụ án hình sự của VKSND cấp huyện mang đầy đủ các đặc điểm của KSĐT nói chung
- 2.2 Về tính chất các loại tội phạm
- 2.3 Về chủ thể kiểm sát
- 2.4 Về đối tượng kiểm sát
- 2.5 Về tính chất kiểm sát
- 3. Vai trò kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp huyện
1. Khái quát chung
Để làm rõ khái niệm về KSĐT vụ án hình sự của VKSND cấp huyện trước hết là làm rõ về thẩm quyền. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hiện kiểm sát điều tra vụ án hình sự theo phạm vi quyền năng pháp lý do pháp luật quy định. Với vai trò là một cấp thực hiện, thẩm quyền thực hiện của VKSND cấp huyện được phân theo địa giới hành chính.
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có thẩm quyền kiểm sát điều tra đối với các vụ án theo thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân cấp huyện và tương ứng với thẩm quyền điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra trong công an nhân dân cấp huyện. Thẩm quyền kiểm sát điều tra tuân theo 3 tiêu chí: theo hệ thống tổ chức cơ quan Viện kiểm sát, theo lãnh thổ và theo cấp đơn vị hành chính.
Nguyên tắc thứ nhất là thẩm quyền kiểm sát điều tra tuân theo quy tắc tổ chức của hệ thống cơ quan viện kiểm sát. Viện kiểm sát phân thành hai nhánh hệ thống là Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự, trong đó Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát điều tra đối với các vụ án hình sự do Cơ quan cảnh sát điều tra trong công an nhân dân điều tra, đó là mọi tội phạm trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan an ninh điều tra và cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân.
Cơ quan điều tra của quân đội nhân dân điều tra các vụ án mà trong đó bị can hoặc bị hại là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân; Hoặc liên quan đến bí mật quân sự; Hoặc tội phạm xảy ra trong trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ, khu vực thiết quân luật.
Nguyên tắc thứ hai là thẩm quyền kiểm sát điều tra phân theo cấp đơn vị hành chính. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện kiểm sát điều tra đối với các tội phạm do cơ quan cảnh sát điều tra công an nhân dân cấp huyện điều tra, đó là mọi tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, không có tình tiết phức tạp, không có yếu tố nước ngoài, không gây dư luận lớn trong xã hội. Ngoài ra các tội phạm này phải không thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều tra và và Cơ quan điều tra VKSNDTC. Các tội phạm do cơ quan an ninh điều tra trong công an nhân dân gồm các tội phạm quy định tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia), Chương XXVI (các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh) và các tội phạm quy định tại các điều 207 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả); Điều 208 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển nhượng giả, các giấy tờ có giá giả khác); Điều 282 Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; Điều 283 Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 284 Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 299 Tội khủng bố; Điều 300 Tội tài trợ khủng bố; Điều 303 Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Điều 304 Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; Điều 305 Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ; Điều 309 Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân; Điều 337 Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước; Điều 338 Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước; Điều 347 Tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội ở lại Việt Nam trái phép; Điều 348 Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép; Điều 349 Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép; Điều 350. Tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép của Bộ luật Hình sự, do đặc thù của những tội phạm xâm hại an ninh quốc gia xảy ra ít và thường có mức độ nguy hiểm rất lớn nên cơ quan an ninh điều tra không có ở cấp huyện mà do công an cấp tỉnh phụ trách.
Cơ quan điều tra VKSNDTC có thẩm quyền điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật Hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.
Nguyên tắc thứ ba là thẩm quyền kiểm sát điều tra theo lãnh thổ. Vụ án hình sự xảy ra trong lãnh thổ của huyện nào thì VKSND huyện đó thực hiện Kiểm sát điều tra. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.
Từ ba nguyên tắc trên có thể thấy rằng thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện được xác định theo thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra trong công an nhân dân cấp huyện và phụ thuộc vào sự phân loại tội phạm. Đây cũng là một trong những đặc trưng cơ bản của hoạt động kiểm sát điều tra. Tuy nhiên, về tổng thể, xuyên suốt toàn bộ tố tụng hình sự, thì quy định về thẩm quyền của Toà án mới là quy định mang tính mốc, chuẩn cho việc xác định thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng khác, bao gồm cả Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.
Dựa vào thẩm quyền và những đặc điểm của KSĐT vụ án hình sự đã nêu ở phần 1.1 có thể rút ra khái niệm về kiểm sát điều tra của viện kiểm sát nhân dân cấp huyện như sau: Kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp huyện là việc Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện sử dụng quyền năng pháp lý theo thẩm quyền của mình thực hiện việc theo dõi, đánh giá hoạt động điều tra của cơ quan, người tiến hành điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nhằm kịp thời phát hiện và khắc phục các vi phạm pháp luật, bảo đảm tính hợp pháp của các hoạt động điều tra và bảo vệ sự thật khách quan của vụ án.
2. Đặc điểm của kiểm sát điều tra vụ án hình sự
Từ khái niệm trên và đặc điểm chung của KSĐT vụ án hình sự đã nêu tại phần 1.2 có thể rút ra đặc điểm của kiểm sát điều tra vụ án hình sự như sau:
2.1 KSĐT vụ án hình sự của VKSND cấp huyện mang đầy đủ các đặc điểm của KSĐT nói chung
đã được phân tích tại mục 1.1.1 gồm: KSĐT là quyền năng chỉ thuộc về duy nhất cơ quan Viện kiểm sát và mang tính quyền lực nhà nước, do pháp luật quy định; kiểm sát điều tra bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi cơ quan điều tra ban hành Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ vụ án hình sự; KSĐT thực hiện bằng quyền yêu cầu và quyền kiến nghị; KSĐT nhằm mục đích là đảm bảo các hoạt động trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được thực hiện theo đúng pháp luật, khách quan và đúng đắn; Đảm bảo phát hiện và xử lý, khắc phục kịp thời các vi phạm pháp luật.
2.2 Về tính chất các loại tội phạm
Thứ nhất, về tính chất các loại tội phạm mà VKSND cấp huyện kiểm sát điều tra theo thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp huyện đối với các loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng mà có tình tiết không quá phức tạp, không gây dư luận xã hội lớn, không có yếu tố nước ngoài, không thuộc các trường hợp cơ quan điều tra cấp trên lấy lên để điều tra. Nói cách khác, tính chất vụ án hình sự do cấp huyện kiểm sát điều tra có hai đặc điểm: đặc điểm về loại tội phạm phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng), đặc điểm về tính chất thực hiện tội phạm (đơn giản, ít có mối liên hệ với tỉnh, huyện khác hoặc quốc gia khác).
2.3 Về chủ thể kiểm sát
Thứ hai, về chủ thể kiểm sát là Kiểm sát viên, kiểm tra viên do Viện trưởng VKSND cấp huyện phân công, đó là người có chức danh tư pháp tiến hành tố tụng của cơ quan VKSND. Cụ thể kiểm sát viên tiến hành tố tụng là kiểm sát viên sơ cấp phù hợp với tính chất, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; bảo đảm tuân theo sự phân hóa đội ngũ Kiểm sát viên về năng lực, trình độ, chuyên môn. Kiểm sát viên sơ cấp có quyền hạn kiểm sát điều tra đối với các vụ án hình sự thuộc loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Kiểm tra viên là một chức danh tư pháp trong tiến hành tố tụng, tuy nhiên chỉ có vai trò giúp việc cho Kiểm sát viên trong công tác Kiểm sát điều tra nếu được Lãnh đạo Viện phân công.
2.4 Về đối tượng kiểm sát
Thứ ba, đối tượng kiểm sát của VKSND cấp huyện là: (i) hoạt động của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong địa bàn huyện. Đây là những cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương, không có chức năng chuyên trách về điều tra, họ chỉ tiến hành điều tra trong những trường hợp nhất định do pháp luật quy định; (ii) Điều tra viên và Cán bộ điều tra của các cơ quan tiến hành điều tra nêu trên. Xuất phát từ mô hình kim tự tháp nêu trên, số lượng án của cấp huyện là lớn nhất và như vậy, VKSND cấp huyện cũng sẽ kiểm sát điều tra với số lượng đối tượng kiểm sát nhiều nhất.
2.5 Về tính chất kiểm sát
Thứ tư, về tính chất kiểm sát: Đối với các vụ án thuộc thẩm quyền kiểm sát thường có sự ít phức tạp, các cơ quan tiến hành tố tụng dễ dàng trao đổi và phối hợp trong quá trình giải quyết vụ án. Hoạt động kiểm sát diễn ra trong phạm vi nhỏ hẹp, trong đó đối tượng bị kiểm sát là cơ quan tiến hành điều tra tại một đơn vị hành chính địa phương cấp huyện, mối quan hệ giữa người kiểm sát và người bị kiểm sát có sự quen biết xã hội. Vì vậy mà hoạt động kiểm sát rất linh hoạt và chủ yếu thực hiện quyền yêu cầu qua phương thức bằng lời nói.
3. Vai trò kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp huyện
Giai đoạn điều tra là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong giai đoạn này cơ quan có thẩm quyền điều tra được phép sử dụng toàn bộ những hoạt động điều tra được BLTTHS quy định để giải quyết vụ án. Bởi quyền năng của cơ quan tiến hành điều tra trong giai đoạn là xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, mỗi hoạt động điều tra của cơ quan tiến hành điều tra đều ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án, vì vậy kiểm sát điều tra có vai trò giới hạn quyền năng của cơ quan điều tra, điều chỉnh các hoạt động điều tra tuân thủ theo quy định của pháp luật, tránh sự lạm quyền của người tiến hành điều tra. Cần khẳng định rằng mọi hoạt động điều tra không tuân theo quy định pháp thì kết quả điều tra đó không có giá trị trong việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát điều tra là bảo vệ đầu mối của vụ án hình sự. Trong thực tế các vụ án hình sự chủ yếu do cơ quan điều tra cấp huyện điều tra (tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng), cơ quan điều tra cấp huyện là chủ thể tiếp nhận và tiếp xúc đầu tiên với vụ án hình sự, phải phát hiện, thu thập chứng cứ, định hướng để dần tìm ra tình tiết của vụ án, các quyết đinh, hành vi tố tụng được ban hành, thực thi trong bối cảnh cần nhanh chóng, khẩn trương, nên thiếu thời gian để bảo đảm tính có căn cứ của việc ban hành, thực thi. Ngoài ra, nhiều tội phạm đặc biệt nghiêm trọng lúc đầu CQĐT cấp huyện chưa thể xác định chính xác loại tội phạm mà đã tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ ban đầu, những hoạt động này có thể vô tình làm mất đi chứng cứ vật chất để chứng minh tội phạm có mức độ nghiêm trọng hơn. Bên cạnh đó là sự bố trí nhân lực của cơ quan tiến hành điều tra cấp huyện còn hạn chế về số lượng và chất lượng. Khi tiến hành điều tra, mọi hoạt động điều tra do một Điều tra viên chỉ đạo nhưng người trực tiếp làm là các cán bộ điều tra, trong khi ở cấp huyện cán bộ điều tra thường là những người trẻ, mới ra trường, ít kinh nghiệm thực tiễn, trong khi việc điều tra yêu cầu phải thực hiện nhanh chóng, cấp bách nên khó tránh được những sai lầm. Vì vậy kiểm sát điều tra không chỉ là có vai trò thay mặt nhà nước giám sát mà còn có vai trò định hướng trong hoạt động điều tra để không bỏ xót những chứng cứ chứng minh tội phạm.
Giai đoạn điều tra chưa có sự hiện diện của tòa án, chưa có sự hiện diện đầy đủ của yếu tố tranh tụng, việc tìm kiếm chứng cứ buộc tội hay gỡ tội chỉ do từ một phía cơ quan tiến hành điều tra. Bên cạnh đó là trong một đơn vị hành chính cấp huyện (đặc biệt là ở các vùng sâu vùng xa, nông thôn chưa phát triển) thì sự phối hợp, trao đổi, liên hệ giữa các cơ quan đoàn thể mang tính linh hoạt và khép kín cao, ít nhiều phụ thuộc vào các mối quan hệ với chính quyền và các cơ quan, tổ chức tại địa phương, đôi khi còn bị chi phối bởi quan điểm của chính quyền địa phương dễ dẫn đến sự lạm quyền của CQĐT và vi phạm quyền của người tham gia tố tụng. Vì vậy khi thực hiện kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát sẽ là cơ quan chủ động nhất quán với cơ quan điều tra để giải quyết vụ án hình sự đảm bảo thực hiện đúng tố tụng hình sự, không làm oan, sai, bỏ lọt tội phạm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê