1. Pháp điển hóa quy phạm pháp luật

Pháp điển hoá là hình thức cao nhất của hệ thống hoá pháp luật theo đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tập hợp, sắp xếp những văn bản đã có theo một trình tự nhất định; đồng thời loại bỏ những quy phạm pháp luật lỗi thời, lạc hậu, chồng chéo, xây dựng những quy phạm pháp luật mới; khắc phục những chỗ trống đã được phát hiện trong quá trình tập hợp văn bản, sửa đổi các quy phạm pháp luật hiện hành nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý của chúng. Do vậy, kết quả của công tác pháp điển hoá thông thường là bộ luật, trong đó thể hiện một cách cơ bản nội dung của vấn đề mà pháp luật cần điều chỉnh. Nhờ đó, sau khi pháp điển hoá, chúng ta có một văn bản không những lớn về phạm vi điều chỉnh mà còn có cơ cấu bên trong hợp lý và khoa học. Việc pháp điển hoá sẽ tạo ra một hệ thống pháp luật toàn diện, đồng bộ và thống nhất. Đây chính là những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thiện hệ thống pháp luật của một quốc gia nhất định.

2. Pháp điển hóa là làm cho hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện

Mục tiêu cuối cùng của hoạt động pháp điển hóa là làm cho hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện theo hướng rõ ràng, minh bạch, thân thiện hơn với người sử dụng, hạn chế ở mức thấp nhất những bất hợp lý, chồng chéo, thiếu nhất quán giữa các văn bản đơn lẻ và giúp cho việc tìm kiếm, tra cứu pháp luật được dễ dàng.

Kinh nghiệm cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật càng đơn giản, càng ít loại văn bản thì càng dễ chấp hành và áp dụng. Ở nước ta, mấy chục năm qua đã có nhiều hình thức văn bản đồng thời được dùng để ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật khi giải quyết các vụ việc cụ thể. Việc quy định quá nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng làm cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tiềm ẩn nguy cơ bị chồng chéo, mâu thuẫn, thiêu sự phân công, phân nhiệm rõ ràng về thẩm quyền lập pháp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ đó, dẫn đến việc khó kiểm soát.

3. Đơn giản hóa các hình thức văn bản quy phạm pháp luật

Từ thực tiễn trên đây, một giải pháp cần thiết là đơn giản hóa các hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Điều này sẽ giúp phân biệt rõ hơn văn bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản khác (văn bản điều hành, văn bản áp dụng, văn bản hành chính); đồng thời, tạo điều kiện xác định trật tự pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính vì vậy, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo hướng giảm bót loại văn bản quy phạm pháp luật không chỉ về hình thức mà cả điều kiện ban hành. Đây được coi là bước đi cần thiết nhằm đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta.

Tuy vậy, hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn có số lượng văn bản đổ sộ, với nhiều tầng nấc, thứ bậc, hiệu lực pháp lý khác nhau, rất khó nhận diện và kiểm soát. Bên cạnh đó, sau gần 30 năm đổi mới, nước ta đã có những cố gắng để xây dựng hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, do chưa có nhiều kinh nghiệm, lại đang trong quá trình chuyển đổi, nhiều trường hợp phải ban hành ngay văn bản để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước... đã dẫn đến việc tồn tại một "rừng" văn bản quy phạm pháp luật với nhiều tầng nấc, thứ bậc. Đêh thời điểm hiện tại, thậm chí, cả những nhà làm luật cũng khó kiểm soát khối lượng văn bản khổng lồ, ngày càng tăng theo nhu cầu điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp, rộng lớn.

4. Khó khăn khi không tiến hành hệ thống hóa, pháp điển hóa pháp luật

Việc chưa tiến hành hoạt động hệ thống hóa, pháp điển hóa một cách thường xuyên, toàn diện, đồng bộ, làm cho những người trực tiếp áp dụng pháp luật gặp rất nhiều khó khăn trong xác định chính xác vị trí, giá trị của một văn bản, một quy định pháp luật cũng như theo dõi quá trình hình thành, phát triển từng chế định pháp luật; các nhà hoạch định chính sách sẽ thiếu những cơ sở vững chắc để xem xét, đánh giá, xác định chính xác chương trình, kế hoạch lập pháp. Do vậy, nhu cầu rà soát, sắp xếp, chấn chỉnh lại các quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định để dễ tiếp cận, theo dõi và loại bỏ những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực trở thành một hoạt động cần thiết, thường xuyên. Đây chính là mục tiêu mà hoạt động pháp điển hóa hướng tới.

Theo đó, hệ thống pháp luật quốc gia được chia theo các lĩnh vực nhất định; trong mỗi lĩnh vực sẽ tiến hành tổng hợp toàn bộ các quy phạm pháp luật trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp những quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực đó; sắp xếp các quy phạm pháp luật theo thứ bậc hiệu lực pháp lý từ cao xuống tháp; loại bỏ các quy phạm mâu thuẫn, chồng chéo; trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và xuất bản thành các tập pháp điển. Tất cả các quy phạm pháp luật trong tập pháp điển là những quy phạm đang còn hiệu lực pháp luật; bất kỳ một quy phạm pháp luật nào không nằm trong tập pháp điển đều không có hiệu lực. Như vậy, hệ thống pháp luật quốc gia khi được pháp điển thành công sẽ bao gồm tập hợp các tập pháp điển. Sau khi hệ thống pháp luật được pháp điển, mỗi khi có một quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, ban hành mới thì ngay lập tức được cập nhật vào phần tương ứng của tập pháp điển để bảo đảm nguyên tắc tất cả các quy phạm pháp luật hiện có trong tập pháp điển là những quy phạm đang còn hiệu lực.

5. Lợi ích của việc pháp điển hóa quy phạm pháp luật

Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật theo quan điểm này mang lại những lợi ích to lớn như sau:

Thứ nhất, tạo lập được một hệ thống pháp luật công khai, minh bạch:

Về nguyên tắc, tất cả các quy phạm pháp luật hiện đang tồn tại trong tập pháp điển là những quy phạm hiện đang có hiệu lực. Các tập pháp điển này lại được xuất bản thành âh phẩm, bên cạnh đó, với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, các tập pháp điển này được số hóa để đưa lên mạng internet. Do đó, tất cả các quy định của pháp luật đều được công khai, minh bạch để người dân cũng như các cơ quan, công chức nhà nước tiếp cận.

Thứ hai, giúp cho cơ quan nhà nước, công chức nhà nước và người dân dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu các quy định của pháp luật để thực hiện.

Với việc các quy phạm pháp luật có liên quan với nhau nằm phân tán, rải rác ở nhiều văn bản được đưa vào một tập pháp điển theo một trật tự logic sẽ góp phần tăng cường khả năng liên kết và tính gần gũi, dễ hiểu của các quy phạm pháp luật, giúp cho cơ quan, công chức nhà nước cũng như người dân dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu các quy định của pháp luật để thực hiện. Người dân, doanh nghiệp không còn phải lo lắng, sợ rằng mình chưa tìm hiểu được hết các quy phạm pháp luật có liên quan nằm rải rác trong nhiều văn bản; không còn phải "thấp thỏm" cho rằng, các quy phạm mà mình vận dụng có thể không còn hiệu lực.

Thứ ba, giúp loại bỏ được những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp, kịp thời đưa ra những quy định mới để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Với việc tập hợp toàn bộ quy phạm pháp luật trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi một lĩnh vực cụ thể vào trong một tập pháp điển sẽ dễ dàng phát hiện ra các quy phạm pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp để sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ; đồng thời, cũng dễ dàng phát hiện ,ra các khiếm khuyết, các lỗ hổng trong hệ thống pháp luật để kịp thời xây dựng, ban hành các quy phạm pháp luật mới. Với cách làm này sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Thứ tư, bảo đảm tính linh hoạt, dễ cập nhật và nhanh chóng thích nghi, phù hợp với điều kiện hạ tầng xã hội đang biến chuyển liên tục như hiện nay.

Sau khi đã xây dựng thành công các tập pháp điển quy phạm pháp luật theo từng lĩnh vực cụ thể, mỗi khi có sự thay đổi đối với bất kỳ quy phạm pháp luật nào nằm trong tập pháp điển thì, việc cập nhật quy phạm đó vào tập pháp điển cũng rất thuận lợi, vì chỉ phải tác động riêng đến quy phạm có sự thay đổi đó. Trong điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước đang có nhiều biến chuyển, việc sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật là một việc làm tất yếu và diễn ra tương đối thường xuyên. Do đó, với việc các quy phạm pháp luật được pháp điển lại trong từng tập pháp điển sẽ giúp cho việc sửa đổi, bổ sung chỉ tập trung vào một số quy phạm pháp luật. Điều này làm cho hoạt động xây dựng pháp luật bớt đi các thủ tục rườm rà, kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật cần thiết, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý xã hội; đồng thời, góp phần giảm tải công việc của các chủ thể có thẩm quyền xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ năm, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách xem xét, đánh giá về tính thống nhất, tính toàn diện, tính hệ thống của pháp luật Việt Nam; phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo, những kẽ hở của pháp luật, trên cơ sở đó, đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng các bộ luật đối với những lĩnh vực đã có tính ổn định cao. Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ cần thông qua những luật, pháp lệnh với nội dung đơn giản hơn nhiều vì chỉ nhằm ban hành hay sửa đổi, bô’ sung một hoặc một số quy định cụ thể hoặc có thể thông qua một luật sửa đổi các quy định của nhiều luật khác nhau. Do đó, tính Ổn định của hệ thống pháp luật sẽ ngày càng được nâng cao.

Thứ sáu, góp phần tiết kiệm thời gian, công sức, kinh phí cho hoạt động xây dựng pháp luật.

Ở nước ta hiện nay, số lượng văn bản quy phạm pháp luật là rất đồ sộ, trong đó đa số là các văn bản dưới luật, pháp lệnh. Vì nhiều lý do khác nhau mà việc rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật hiệu quả còn tháp. Do đó, việc tiến hành pháp điển hóa hệ thống quy phạm pháp luật theo quan điểm mới là hết sức cần thiết và đang là một nhu cầu của xã hội.


LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)