Luật sư tư vấn:
1. Văn bản hành chính của cơ quan nhà nước là gì?
Văn bản hành chính là văn bản được hình thành trong quá trình chỉ đạo, điều hành, giải quyết công việc của các cơ quan, tổ chức nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Văn bản này sẽ được ban hành bởi nhiều chủ thể khác nhau và giải quyết những vấn đề cụ thể trong quá trình quản lý của cơ quan, tổ chức đó. Cách thức truyền đạt của văn bản hành chính sẽ được xây dựng theo hai chiều: chiều dọc là các văn bản hành chính của cấp trên chuyển cho cấp dưới và chiều ngang là các văn bản hành chính được sử dụng để trao đổi giữa những cơ quan, tổ chức nhà nước ngang cấp với nhau
Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP quy định về công tác văn thư và quản lý nhà nước về công tác văn thư thì văn bản hành chính của cơ quan nhà nước có 29 loại, bao gồm: nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ, bản thỏa thuận, giấy ủy quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, phiếu gửi, phiếu chuyển, phiếu báo, thư công.
Văn bản hành chính được chia thành hai loại: văn bản hành chính thông thường và văn bản hành chính cá biệt.
+ Văn bản hành chính thông thường: là những văn bản do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội,....ban hành trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình để giải quyết vấn đề và nội dung của văn bản không có tính chất bắt buộc. Ví dụ: thông báo, hướng dẫn, biên bản, hợp đồng,...
+ Văn bản hành chính cá biệt: là những văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự nhất định để hướng dẫn, giải quyết vấn đề. Văn bản hành chính này được áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định để giải quyết vấn đề cho một số đối tượng nhất định.
Ví dụ: nghị quyết, quyết định.
2. Thể thức, kỹ thuật trình bày của văn bản hành chính
Thể thức văn bản hành chính được quy định như sau:
+ Thành phần chính: quốc hiệu và tiêu ngữ; tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản; số, ký hiệu của văn bản; địa danh và thời gian ban hành văn bản; tên loại và trích yếu nội dung văn bản; nội dung văn bản; chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền; dấu, chữ ký số của cơ quan, tổ chức và nơi nhận.
+ Thành phần khác: phụ lục; dấu chỉ độ mật, mức độ khẩn, các chỉ dẫn về phạm vi lưu hành; ký hiệu người soạn thảo văn bản và số lượng bản phát hành; địa chỉ cơ quan, tổ chức; thư điện tử; trang thông tin điện tử; số điện thoại; số fax.
Khi viết một văn bản hành chính thì cần lưu ý về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính như:
Với khổ giấy A4 thì trình bày nội dung theo chiều dài của khổ A4 còn văn bản có các bảng biểu nhưng không được làm thành các phụ lục riêng thì có thể được trình bày theo chiều rộng. Nội dung phải cách mép trên và mép dưới từ 20 đến 25 mm, cách mép trái từ 30 đến 35 mm, cách mép phải từ 15 đến 20 mm. Phông chữ được trình bày là phông chữ tiếng Việt Times New Roman, bộ mã ký tự Unicode, màu đen,....
Từ ngữ dùng trong văn bản hành chính là những từ ngữ phổ thông, không dùng từ ngữ đụa phương hay tiếng lóng,...còn đối với những thuật ngữ chuyên ngành thì cần sử dụng đúng và hợp lý. Lưu ý rằng từ ngữ sử dụng trong văn bản hành chính cần soạn thảo đúng chính tả. Do đó, ngôn ngữ, từ ngữ sử dụng trong trong văn bản hành chính cần đảm bảo tính chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.
3. Văn bản hành chính của cơ quan nhà nước hết hiệu lực khi nào?
Hiện nay, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về thời điểm có hiệu lực của các văn bản hành chính hay thời điểm nào là văn bản hành chính đó hết hiệu lực.
Trên thực tế, một số văn bản hành chính sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày ký vào văn bản hoặc vào một ngày khác nếu đươc quy định cụ thể trong văn bản đó. Hay có những trường hợp văn bản hành chính không ghi rõ thời hạn hết hiệu lực của văn bản đó thì hiệu lực của văn bản đó xác định hết khi nội dung công việc được điều chỉnh trong văn bản đã hoàn thành.
4. Sự khác nhau giữa văn bản hành chính và văn bản quy phạm pháp luật
* Khái niệm:
Văn bản hành chính là văn bản được hình thành trong quá trình chỉ đạo, điều hành, giải quyết công việc, những vấn đề cụ thể của các cơ quan, tổ chức nhà nước hay doanh nghiệp nhà nước.
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật và được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. (Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015)
* Về hình thức của văn bản
Đối với văn bản hành chính, văn bản hành chính có những hình thức sau: nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), chỉ thị, quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ, bản thỏa thuận, giấy ủy quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, phiếu gửi, phiếu chuyển, phiếu báo, thư công. (Điều 7 Nghị định 30/2020/NĐ-CP). Văn bản này do các cơ quan, tổ chức nhà nước, doanh nghiệp nhà nước và cá nhân có thẩm quyền tự soạn thảo và ban hành nhưng vẫn phải đảm bảo theo thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản được quy định trong Nghị định 30/2020/NĐ-CP quy định về công tác văn thư.
Đối với văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật có những hình thức sau: Hiến pháp; Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Nghị định của Chính phủ, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phấn Tòa án nhân dân tối cao;...(được quy định tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi điểm b khoản 1 Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020)).
* Về nội dung của văn bản:
Đối với văn bản hành chính, nội dung của văn bản chỉ có những thông tin để giải quyết những công việc cụ thể; trao đổi giữa cá nhân với cơ quan, tổ chức hay giữa các cơ quan, tổ chức với nhau;....
Đối với văn bản quy phạm pháp luật, nội dung của văn bản bao gồm những quy tắc xử sự chung, có tính chất bắt buộc và được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau.
* Về hiệu lực của văn bản:
Đối với văn bản hành chính thì hiệu lực của văn bản sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày ký vào văn bản hoặc vào một ngày nào đó được quy định cụ thể trong văn bản đó. Nhưng nếu văn bản không ghi rõ thời hạn hết hiệu lực của văn bản đó thì khi hoàn thành nội dung của công việc sẽ xác định văn bản hành chính đó hết hiệu lực.
Đối với văn bản quy phạm pháp luật, thời điểm hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Điều 154 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực một phần hoặc toàn bộ trong trường hợp sau:
Thứ nhất, trong văn bản quy phạm pháp luật có quy định thời hạn hết hiệu lực, cho nên khi đến thời điểm đó thì văn bản quy phạm pháp luật sẽ bị chấm dứt và chấm dứt sự điều chỉnh đối tượng điều chỉnh được quy định trong văn bản đó.
Ví dụ: Nghị định 15/2022/NĐ-CP quy định chính sách miễn, giảm thuế theo nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội thì nghị định này có Điều 1 sẽ được áp dụng từ ngày 01 tháng 02 năm 2022 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2022 còn Điều 2 áp dụng cho kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2022. Như vậy, Nghị định 15/2022/NĐ-CP hết hiệu lực một phần khi đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2022.
Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó.
Ví dụ: Điều 33 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt được sửa đổi bởi khoản 18 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP.
Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật bị bãi bỏ bởi một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ví dụ: Điểm i Khoản 2 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, hành vi không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy hoặc đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy không cài quai đúng quy cách khi điều khiển xe tham gia giao thông sẽ bị phạt tiền. Điều khoản này bị bãi bỏ bởi điểm b khoản 36 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP.
Thứ tư, văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng hết hiệu lực.
Ví dụ: Bộ luật Lao động năm 2012 hết hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2021 nên Nghị định 11/20216/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cũng hết hiệu lực (hết hiệu lực vào ngày 15 tháng 02 năm 2021.
Thông thường, hiệu lực của văn bản hành chính sẽ ngắn hơn so với hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết "Văn bản hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước hết hiệu lực khi nào?". Bạn đọc có bất kỳ vướng mắc pháp lý nào thì vui lòng liên hệ tới bộ phận tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số 1900.6162 của Luật Minh Khuê để được hỗ trợ kịp thời. Xin chân thành cảm ơn bạn đọc!.