1. Mua bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy có bị phạt tù ?

Chào Luật Mình Khuê, xin luật sư cho em hỏi là: Chồng em bị bắt vì tội mua và tàng trữ ma túy, trên đường đi mua về thì bị công an bắt, khám trong người có 2 cục thuốc phiện nhỏ nhưng không rõ bảo nhiêu gam, công an về nhà khám thì không có gì. Với trường hợp của chồng em như thế thì đi tù bảo nhiêu năm, chồng em cũng đã từng đi bộ đội thì có được giảm án không ?
Em xin cảm ơn !

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Căn cứ quy định tại điều 249, điều 250, điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định cụ thể như sau:

"Điều 149. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này

...

Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 249, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

Vậy, tùy thuộc vào lượng ma túy mà chồng bạn đã tàng trữ, mua bán, vận chuyển thì sẽ phạm vào một trong các khung hình phạt khác nhau .

Việc chồng bạn từng đi bộ đội và từ trước tới nay và anh ấy không có tiền án tiền sự , có đạo đức tốt thì đây cũng có thể là 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự , tòa án sẽ xem xét việc có công nhận đây là tình tiết giảm nhẹ hay không và đưa ra những phán quyết phù hợp với chồng bạn.

>> Xem thêm:  Vận chuyển tiền trái phép phạt bao nhiêu năm tù ? Xử lý khi chuyển tiền mà không nhận được hàng ?

2. Hình phạt về hành vi sử dụng ma túy đá ?

Thưa luật sư: Em trai của em đã sử dụng ma túy đá sau đó bị công an bắt giữ và thử nước tiểu có chất ma túy trong người. Hiện công an đưa em trai em vào trại Nhị Xuân - Hóc Môn, đến nay đã ba tuần mà chưa được thả ra .Vì khi bị bắt không mang theo giấy tùy thân trong người nên bên trại Nhị Xuân không thả người, như vậy em phải làm như thế nào ?
Em xin chân thành cảm ơn !

>> Tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162.

Trả lời:

Căn cứ vào Nghị định 221/2013/NĐ-CP đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm có:

" Điều 3. Đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính gồm:

1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.

2. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định.

Điều 4. Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép lần cuối bị phát hiện và lập biên bản theo quy định tại Điều 8 Nghị định này.

Do em trai bạn được đưa vào trại Nhị Xuân-Hóc môn 3 tuần nên chưa đủ thời gian theo như quy định .

Tuy nhiên, nếu em trai bạn thuộc một trong các trường hợp dưới đây thì có thể được hoãn, miễn, giảm thời gian, tạm đình chỉ thời gian chấp hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

"Điều 18. Hoãn, miễn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

1. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:

a) Đang ốm nặng có chứng nhận của bệnh viện;

b) Gia đình có khó khăn đặc biệt được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Gia đình có khó khăn đặc biệt là gia đình gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, không có tài sản có giá trị để tạo thu nhập phục vụ sinh hoạt hoặc có bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con bị ốm nặng kéo dài, không có người chăm sóc mà người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là lao động duy nhất của gia đình đó và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Khi điều kiện hoãn chấp hành quyết định không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành.

2. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được miễn chấp hành quyết định theo một trong các trường hợp sau đây:

a) Mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện;

b) Trong thời gian hoãn chấp hành quyết định quy định tại Khoản 1 Điều này mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công hoặc không còn nghiện ma túy;

Người tiến bộ rõ rệt là người tích cực lao động, học tập, tham gia các phong trào chung của địa phương, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.

Người lập công là người dũng cảm cứu người, cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể hoặc của người khác và được Ủy ban nhân dân cấp xã khen thưởng; có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị trong lao động, sản xuất, được cơ quan chức năng từ cấp tỉnh trở lên công nhận; có thành tích đặc biệt xuất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và được tặng giấy khen của Công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên.

c) Đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện.

3. Thủ tục đề nghị hoãn miễn chấp hành quyết định:

a) Hồ sơ đề nghị hoãn miễn bao gồm:

Đơn đề nghị hoãn, miễn chấp hành quyết định của người phải chấp hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ;

Tài liệu chứng minh thuộc diện được hoãn, miễn chấp hành quyết định theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này.

b) Hồ sơ đề nghị gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Điều 19. Giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện bắt buộc

1. Học viên đã chấp hành một nửa thời hạn quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được xét giảm một phần hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

Học viên có tiến bộ rõ rệt là người nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế, quy trình cai nghiện tại cơ sở, tích cực lao động, học tập, tham gia các phong trào chung của cơ sở và được Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của cơ sở cai nghiện bắt buộc (sau đây gọi tắt là Hội đồng) công nhận.

Học viên lập công là người dũng cảm cứu người, cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể hoặc của người khác và được Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc khen thưởng; có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị trong lao động, sản xuất, được cơ quan chức năng từ cấp tỉnh trở lên công nhận; có thành tích đặc biệt xuất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và được tặng giấy khen của Công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên;

2. Học viên bị mắc bệnh hiểm nghèo, phụ nữ mang thai trong thời gian chấp hành quyết định thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

3. Trường hợp người đang chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc ốm nặng có xác nhận của bệnh viện mà được đưa về gia đình điều trị thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định; thời gian điều trị được tính vào thời gian chấp hành quyết định; sau khi sức khỏe được phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ 03 tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp hành; trong thời gian tạm đình chỉ thi hành quyết định mà người đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

4. Định kỳ hàng quý hoặc đột xuất khi có học viên thuộc diện được giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị và tổ chức họp Hội đồng xem xét đề nghị giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại.

5. Căn cứ danh sách học viên được đề xuất, Hội đồng xem xét, biểu quyết đối với từng trường hợp cụ thể và kết luận theo đa số. Trường hợp số phiếu biểu quyết bằng nhau thì ý kiến của Chủ tịch Hội đồng là ý kiến quyết định.

6. Trong thời hạn 02 ngày, kể từ khi nhận được Biên bản họp của Hội đồng, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc lập hồ sơ đề nghị gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ sở cai nghiện bắt buộc đóng trụ sở xem xét quyết định.

Hồ sơ đề nghị gồm:

a) Văn bản đề nghị của Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc;

b) Danh sách học viên được đề nghị giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại;

c) Biên bản họp Hội đồng;

d) Kết quả nhận xét, đánh giá hàng tháng của tổ, đội và bản thành tích của từng học viên được đề nghị;

đ) Giấy xác nhận của bệnh viện về tình trạng sức khỏe đối với các trường hợp ốm nặng, bệnh hiểm nghèo, phụ nữ mang thai.

7. Trong thời gian chờ Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định, nếu người được đề nghị có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy, quy chế của cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Giám đốc cơ sở có trách nhiệm tổ chức họp Hội đồng và làm văn bản đề nghị đưa người đó ra khỏi danh sách xem xét giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn phần thời gian còn lại gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi nhận hồ sơ. Trường hợp đã có quyết định giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn phần thời gian còn lại nhưng chưa thi hành thì đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét hủy quyết định."

Theo đó bạn có thể xem xét xem em mình có phải trường hợp nào trong các trường hợp trên để được tạm hoãn, miễn chấp hành, và giảm thời hạn chấp hành nếu thuộc một trong các trường hợp trên thì bạn có thể tiến hành làm thủ tục hồ sơ theo đúng quy định.

>> Xem thêm:  Làm thể nào để mở trung tâm cai nghiện ma túy ? Đăng hình ảnh sử dụng ma túy có phạm luật ?

3. Người dưới 18 tuổi vận chuyển ma túy bị phạt như thế nào ?

Luật sư cho em hỏi là em có chồng bị bắt về tội mua bán trái phép chất ma tuý.nhưng theo em được biết là chồng em chỉ đi theo thôi và không biết người đi cùng có mang theo ma tuý đá trong người tổng trọng lượng số ma tuý đá là 1,1kg khi bị bắt thì hình phạt như thế nào ? Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 , sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội mua bán trái phép chất ma túy như sau:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy nếu như hành vi của họ đáp ứng đủ các dấu hiệu cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy, như đã trình bày ở trên. Theo các thông tin mà bạn cung cấp, chồng bạn không biết đó là ma túy thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì không thỏa mãn dấu hiệu về mặt chủ quan của tội mua bán trái phép chất ma túy là lỗi của người mua bán là lỗi cố ý.

Xin được luật sư tư vấn ạ.Em có 1 người bạn thân mới bị bắt để điều tra vì tội Buôn bán và Sử dụng chất ma tuý tổng hợp " ma tuý đá ". Lúc bắt trong người nó có mang tổng là 5 gam ma tuý đá. Bạn e phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự gì cả. Bạn e sinh năm 1993 ạ. E mong bác tư vấn những thắc mắc này ạ. Tội của bạn e có bị phạt tù hoặc xin được phạt hành chính k ạ. Nếu bị phạt tù thì khoảng bao năm và phạt hành chính thì phải nộp bao nhiêu tiền ạ A ruột làm PCT UBND Phường có bị liên luỵ gì k ạ E cám ơn ạ

Điều 251 BLHS 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017)quy định về tội danh này như sau:

"Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm."

Như vậy, bạn của bạn tàng trữ trái phép 5g ma túy đá, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 BLHS là tù từ hai năm đến bảy năm. Ngoài ra,Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Hành vi phạm tội này là của bạn bạn, nếu như anh trai của bạn ấy không có dấu hiệu đồng phạm thì hoàn toàn không có nghĩa vụ liên đới gì trong trường hợp này.

>> Xem thêm:  Quy định pháp luật về cai nghiện bắt buộc ? Mức phạt trốn cai nghiện bắt buộc ?

4. Vận chuyển ma túy mà không biết có phạm tội không ?

Xin chào các luật sư của Công ty luật Minh Khuê . Tôi có một tình huống pháp luật nhờ được các luật sư tư vấn. Tôi có người nhà được thuê vận chuyển 7,5 kg heroin, khi đang vận chuyển và trao đổi thì bị bắt. Vậy theo pháp luật hiện hành người nhà tôi có thể bị mức án phạt như thế nào?
Rất mong được các luật sư tư vấn và trả lời sớm nhất có thể. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Điều 250 Bộ luật hình sự 2015; sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội danh này như sau:

"Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này

Như vậy, anh bạn vận chuyển trái phép 7,5 kg heroin, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự là tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký đưa người nghiện đi cai nghiện bắt buộc ? Mẫu đơn xin cai nghiện

5. Cầm hộ ma túy đá cho người khác thì phạm tội gì ?

Thưa luật sư, Cho tôi hỏi con tôi bị bắt về tội mua bán ma túy đá, cháu năm nay 23 tuổi, đã có gia đình vợ con. Con được 2 tuổi. Cháu rất ngoan, vợ thì đang xin việc làm. Hôm cháu bị bắt mọi người gọi điện cho tôi bảo là cháu bị bắt về tội bán ma túy nhưng thực tế cháu chỉ là người mua hộ cho bạn một gói ma túy đá 500.000 VNĐ như vậy cháu có phạm tội mua bán không?
Từ hôm bị bắt không thấy công an thông báo gì cho gia đình, không khám nhà như vậy có đúng không? Hiện nay cháu vẫn đang bị giam giữ ở công an, còn nếu đúng như cháu trót mua hộ bạn một lần như vậy cháu sẽ bị xử lý như thế nào? Vì tôi tưởng bắt về tội mua bán thì công an sẽ về khám nhà? Xin luật sư cho tôi biết về tội của cháu? Và công an bắt giữ người như vậy có đúng không ạ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ vào Bộ luật hình sự 2015 quy định:

Thứ nhất, về việc con bạn có phạm tội mua bán chất ma túy trái phép

Điều 250 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội mua bán chất ma túy như sau:

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

Tại mục 3.3 TThông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP Hướng dẫn các tội phạm về ma túy quy định cụ thể như sau:

3.3. “Mua bán trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:

a) Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;

b) Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

c) Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

d) Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);

đ) Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;

e) Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

g) Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác.

Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy được hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.3 này đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy.”

Như vậy, với những thông tin bạn cung cấp, chúng tôi có thể chia làm 2 trường hợp:

Trường hợp 1:

Nếu con bạn biết mục đích bạn bè nhờ mua hộ là mua để bán lại cho những người khác mà vẫn đi mua giúp tức là con bạn là đồng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò người giúp sức ( cụ thể giúp sức cho bạn của mình mua chất ma túy để bán trái phép cho người khác).

Con bạn chỉ phải chịu trách nhiệm về tội này và phải chịu hình phạt khi có bản án kết tội của Tòa án. Con bạn tùy vào trọng lượng ma túy mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt khác nhau theo quy định tại điều 251 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

- Có hành vi mua bán, tàng trữ chất ma túy (trọng lượng ma túy dưới 20g): phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

- Trọng lượng ma túy đá từ 20g đến 100g : phạt tù từ 7 năm đến 15 năm

- Trọng lượng ma túy đá từ 100g đến dưới 300g : phạt tù từ 15 năm đến 20 năm

- Trọng lượng ma túy đá từ 300g trở lên : phạt tù 20 năm, chung thân hoặc tử hình.

Ngoài ra, con bạn còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Trường hợp 2:

Trường hợp khi con bạn bị bắt, con bạn đi mua hộ cho bạn bè sử dụng và cơ quan công an phát hiện trong người của con bạn có ma túy. Hành vi này của con bạn, tùy tính chất mức độ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (nếu cơ quan điều tra xác minh được con bạn chỉ tàng trữ mà không đem bán hoặc không chứng minh được mục đích nhằm bán trái phép chất ma tuý đó, và đủ trọng lượng để cấu thành tội tàng trữ) hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này. Tàng trữ trái phép chất ma tuý được hiểu là cất giữ bất hợp pháp chất ma tuý ở bất cứ nơi nào như: Trong nhà ở; phòng làm việc; trụ sở cơ quan, tổ chức; phương tiện giao thông; trong túi quần áo, túi xách... mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma tuý khác hoặc vận chuyển từ này đến nơi khác.

Trong trường hợp này nếu tàng trữ với trọng lượng dưới 1g không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác thì áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS, theo đó không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính. Cụ thể con bạn sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo quy định tại khoản 2, điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình.

Đối với ma túy đá có số lượng trên 1g thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự như đối với trường hợp mua bán trái phép chất ma túy. Vì việc phân biệt hành vi tàng trữ với hành vi mua bán trái phép chất ma tuý chỉ có ý nghĩa trong việc định tội danh theo hành vi mà không ảnh hưởng lớn đến mức hình phạt đối với người phạm tội (do 2 hành vi này được quy định trong cùng một điều luật).

Thứ hai, về việc công an không thông báo, không tiến hành khám nhà và bắt giữ con bạn

(*) Công an không thông báo cho gia đình bạn

Theo quy định tại điều Điều 116 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì:

Kể cả trong trường hợp bắt quả tang hoặc bắt người khẩn cấp do phạm tội thì trước hoặc sau khi bắt thì cá nhân có thẩm quyền vẫn phải ban hành lệnh bắt và thông báo cho gia đình người bị bắt. Như vậy, việc cơ quan công an không thông báo cho gia đình bạn biết là vi phạm quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình..

Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam phải được Viện Kiểm sát xem xét, giải quyết ngay. Trong trường hợp cần phải có thời gian để xác minh thêm thì thời hạn giải quyết không được quá ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện Kiểm sát phải xem xét, giải quyết. Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

(*) Về việc không tiến hành khám nhà

Theo quy định Điều 192, điều 193 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì nếu công an không thực hiện việc khám nhà thì tức là họ không có căn cứ cho rằng tại chỗ ở của con bạn có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vât phạm tội mà có hoặc có đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án. Bạn cần lưu ý việc khám xét nhà ở là không bắt buộc trong mọi trường hợp, với mọi tội phạm ma túy mà tùy theo nhận định của cơ quan điều tra mà họ quyết định có khám nhà hay không.

(*) Về việc cơ quan công an bắt giữ con bạn

Theo điều Điều 110, 112, 114 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Tội tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điều 251 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 là tội nghiêm trọng (khoản 1), tội rất nghiêm trọng (khoản 2), tội đặc biệt nghiêm trọng (khoản 3, 4) cho nên cơ quan công an hoàn toàn có quyền bắt giữ con bạn nếu người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là con bạn đã thực hiện tội phạm mà xét thấy đó là tội phạm nghiêm trọng và cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; hoặc trong trường hợp con bạn đang thực hiện tội phạm bị bắt quả tang. Tuy nhiên gia đình bạn lại không được thông báo về việc con bạn bị bắt như vậy là cơ quan công an đã vi phạm trình tự, thủ tục bắt người.

Trong trường hợp sau khi bị bắt, sau thời hạn 24 giờ cơ quan công an bắt buộc phải ra 2 quyết định: phải trả tự do cho con bạn hoặc ra quyết định tạm giữ. Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày đêm, kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Trong trường hợp cần thiết và được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn, cơ quan ra lệnh tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá ba ngày đêm. Khi hết thời hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người đã bị tạm giữ.

Nếu cơ quan điều tra không làm đúng theo quy định trên đây thì bạn có thể khiếu nại đến Viện kiểm sát yêu cầu xem xét giải quyết.

Trong trường hợp bị khởi tố thì gia đình bạn có thể nhờ người bào chữa theo quy định tại điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

“Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này.”

Trân trọng cám ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật hình sự - Công ty Luật TNHH Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thiếu trách nhiệm để người bị giam giữ trốn thì xử lý như thế nào?