1.Khái niệm nguyên tắc có đi có lại là gì ?

Nguyên tắc có đi có lại là một trong những nguyên tắc được áp dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày và cả trong sinh hoạt quốc tế. Đây cũng là một trong những cơ sở để xác lập và thúc đẩy sự phát triển quan hệ các loại giữa các quốc gia. Nguyên tắc này còn được áp dụng ngay cả trong việc một quốc gia dành cho công dân và pháp nhân của quốc gia khác quy chế pháp lý nhất định

Nguyên tắc có đi có lại là nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế, theo đó một quốc gia sẽ dành chế độ pháp lý nhất định, có thể là chế độ đãi ngộ quốc giahoặc chế độ đãi ngộ tối huệ quốc hay một số quyền lợi nào đó cho thể nhân và pháp nhân một nước ngoài giống như chế độ pháp lý, những quyền lợi hoặc ưu đãi mà các thể nhân và pháp nhân của nước này cũng được hưởng ở nước ngoài đó. Nguyên tắc có đi có lại bao gồm nguyên tắc có đi có lại thực chất và nguyên tắc có đi có lại hình thức.

Nguyên tắc có đi có lại được ghi nhận trong tư pháp quốc tế Việt Nam. Điều 2 Pháp lệnh công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trong tài nước ngoài quy định: “Quyết định của trọng tài nước ngoài cũng có thể được Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hồi phải có điều kiện kí kết, tham gia điều ước quốc tế"

Nguyên tắc có đi có lại được ghi nhận trong luật pháp của đại đa số các nước trên thế giới, cũng như được thể hiện trong rất nhiều Điều ước quốc tế (cả Điều ước song phương và đa phương).
     Ví dụ:khoản 1 Điều 1 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam với Liên bang Nga ghi: “Công dân của bên ký kết này được hưởng trên lãnh thổ của bên ký kết kia sự bảo vệ pháp lý đối với nhân thân và tài sản như công dân của bên ký kết kia”.

2. Áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong tương trợ tư pháp về dân sự

Áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong tương trợ tư pháp về dân sự được hướng dẫn tại Điều 5 Thông tư liên tịch 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự do Bộ trưởng Bộ Tư pháp - Bộ Ngoại giao - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành.

Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền Việt Nam có thể từ chối thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự cho nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại trong tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật Tương trợ tư pháp trong những trường hợp sau đây:

1. Khi có căn cứ cho thấy phía nước ngoài không thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự cho Việt Nam.

2. Việc thực hiện tương trợ tư pháp đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

3.Trong thực tiễn việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại 

Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, nếu quốc gia A có các biện pháp phân biệt đối xử đốì với các công dân và tổ chức của quốc gia B, thì thông thường quốc gia B cũng xem xét việc áp dụng các biện pháp đối xử tương'tự đối với công dân và tổ chức của quốc gia A. Tròng khoa học tư pháp quốc tế, các biện pháp mà qúốc gia B áp dụng được gọi là biện pháp trả đũa hay báo phục.

Việc áp dụng các biện pháp trả đũa đôi khi được quy định ngay trong các văn bản pháp luật của quốc gia. Ví dụ Điều 22 của Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài năm 1995 quy định: “Trong trường hợp quyết định của 

Trọng tài Việt Nam hoặc đơn yêu cầu của các tổ chức, cá nhân Việt Nam về ýiệc công nhận và cho thi hành tại nưổc ngoài quyết định Trọng tài không được cơ quan có thẩm quyền của nước đó xem xét vì lý do phân biệt đối xử, thì Toà án Việt Nam được quyền áp dụng các biện pháp hạn chê tương ứng đối với việc xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài của nước đó hoặc đơn yêu cầu về vấn đề này của tổ chức, cá nhân của nưốc đó”.

Riêng trong lĩnh vực áp dụng pháp luật nước ngoài, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, nguyên tắc này không nên áp dụng.

Về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn quan hệ quốc tế từ trước tối nay, quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước nào thì pháp luật nước đó được áp dụng, trừ trường hợp áp dụng nguyên tắc bảo lưu trật tự công cộng; cơ quan xét xử không cần biết nước hữu quan có bao giờ áp dụng pháp luật của nước mình hay không, không cần biết nước ngoài thuộc hệ thông sồ hữu hoặc chế độ chính trị - xã hội nào. Từ trưôc đến nay, không có luật gia nào bàn luận hay nghi ngờ về tính hợp lý của quan điểm này.

Nguyên tắc có đi có lại không có ý nghĩa gì trong lĩnh vực áp dụng pháp luật nước ngoài, vì không có quyền lực nào từ bên ngoài bắt một quốc gia phải áp dụng pháp luật nước ngoài; chính quốc gia xây dựng quy. phạm xung đột hoặc thoả thuận vối quốc gia khác để xây dựng quy phạm xung đột thông nhất, và quốc gia áp dụng pháp luật nước ngoài theo sự dẫn chiếu của chính những quy phạm xung đột đó.

Về thực chất, việc áp dụng pháp luật nước, ngoài là yêu cầu của mỗi quốc gia trong quá trình bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như pháp nhân nước mình, của chính bản thân mình trong giao lưu dân sự quốc tế, một khi các quyền và lợi ích đó hình thành trên cơ sỏ pháp luật nước ngoài.

Việc một nước áp dụng pháp luật nước ngoài không hề gây cho nước ngoài hữu quan bất kỳ thiệt hại gì và cũng không làm hại gì cho quan hệ giữa các quốc gia hữu quan. Ngược lại, nó làm cho giao lưu dân sự quốc tế ổn định, phát triển thuận lợi vì lợi ích chung của cả cộng đồng quốc tế, của từng quốc gia, và của tất cả các tổ chức, cá nhân tham gia giao lưu dân sự quốc tế.  ở một vài nước trên thế giới cũng có một số quy định đòi phải áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài. Ví dụ: Điều 25 phần mở đầu Bộ luật Dân sự Đức 1896 quy định rằng, Đức sẽ áp dụng biện pháp trả đũa nếu nước ngoài không áp dụng pháp luật của Đức để giải quyết vấn đề thừa kế của công dân Đức. Tuy nhiên, đây chỉ là quy định có tính chất ngoại lệ và không có cơ sở lý luận và thực tiễn có tính thuyết phục.

Một số luật gia phương Tây cho rằng việc áp dụng pháp luật nước ngoài dựa trên cơ sỏ "lễ nhượng quốc tể', mà mục đích của "lễ nhượng quốc tế' là nhằm tranh thủ một thái độ tương tự của nước ngoài. Quan điểm này không có tính thuyết phục, không giúp ích gì cho việc thực hiện mục tiêu điều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài và cũng không phù hợp với thực tiễn trong lĩnh vực này. Vấn đề ở đây không phải là "lễ nhượng quốc tể' hay không mà là sự cần thiết bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Nếu chỉ đặt vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài theo "lễ nhượng'quốc tể' thì dẫn đến chỗ coi nhẹ vấn đề bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong sinh hoạt quốc tế và sẽ không đạt được mục đích của tư phầp quốc tế trong việc điều chỉnh các mốì quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tô" nước ngoài.

Thực tiễn tư pháp quốc tế đã chứng minh rằng, việc áp dụng pháp luật nước ngoài đã hoàn toàn không dựa trên cơ sỏ "lễ nhượng quốc tế' mà xuất phát từ mục đích bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân và của chính bản thân mỗi Nhà nước trong giao lưu dân sự quốc tế. Khái niệm "lễ nhượng quốc tế' là khái niệm mơ hồ, là cơ sở cho việc tự tiện gạt bỏ việc áp dụng pháp luật nước ngoài.

4. Không áp dụng nguyên tắc có đi có lại khi nào ?

Không áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài cũng có nghĩa là không phân biệt đốì xử trong quan hệ với các nước khi áp dụng quy phạm xung đột. Phân biệt đối xử trong lĩnh vực này có nghĩa là không tôn trọng sự bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia và bình đẳng giữa các hệ thống pháp luật của các quốc gia. Việc gạt bỏ áp dụng pháp luật nước ngoài vì lý do nước ngoài có chế độ chính trị, kinh tế - xã hội đối lập hoặc vì chưa được công nhận hoặc chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với Nhà nước nước ngoài đó là hành vi trái với những nguyên tắc cơ bản của cả Công pháp quốc tế lẫn Tư pháp quốc tế.

5. Lý luận và thực tiễn tư pháp quốc tế về nguyên tắc có đi có lại 

 Nhưng trong lý luận và thực tiễn Tư pháp quốc tế của các nước thì phần lớn đều thừa nhận việc thi hành các quy phạm xung đột không bị giói hạn (hạn chế) bởi các quy định của nguyên tắc có đi có lại. Điều này có nghĩa là khi cơ quan tư pháp hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào đó vận dụng luật nước ngoài để giải quyết vụ việc sẽ không cần thiết phải xem xét là ở nước ngoài đó có áp dụng luật pháp của nước mình chưa.

Lý giải vấn đề này có thể hiểu như sau: Việc áp dụng luật nước ngoài là nhu cầu tất yếu khách quan để giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế trong sự phối kết hợp của hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật mà tất cả đều thừa nhận là giữa các hệ thống pháp luật đó đều bình đẳng đối với nhau.
     Các nước đều quy định trong pháp luật của mình việc cho phép áp dụng luật nước ngoài là dựa trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện được thể hiện rõ ngay khi ban hành hoặc thông qua một văn bản pháp quy nào đó (việc này không hề có sự ép buộc từ bất cứ quốc gia bên ngoài nào).
     Tòa án khi giải quyết các vụ việc dân sự quốc tế, dựa trên các quy phạm xung đột để cho phép áp dụng luật nước ngoài là để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên đương sự, chứ không hề gây thiệt hại cho các bên đương sự và cũng không phương hại đến chủ quyền quốc gia. Ngược lại, việc cho phép áp dụng luật nước ngoài bao giờ cũng tăng cường và củng cố sự hợp tác về mọi mặt giữa các quốc gia, phát triển sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau nhằm thiết lập một trật tự pháp lý ổn định trên thế giới.
     Hiện nay, vẫn còn ở một vài nước trên thế giới đặt vấn đề áp dụng luật nước ngoài đòi hỏi phải trên nguyên tắc có đi có lại.
     Ví dụ: Điều 25 Bộ luật dân sự của Đức năm 1988 ghi nhận: “… Đức sẽ áp dụng biện pháp trả đũa nếu nước ngoài không áp dụng luật của Đức để giải quyết vấn đề thừa kế của công dân Đức ở đó” Có lẽ đây chỉ là một trong những trường hợp ngoại lệ.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)