- 1. Vận đơn là gì?
- 2. Vận đơn bản sao (Copy bill of lading) là gì?
- 3. Chức năng của vận đơn
- 4. Nội dung và cơ sở pháp lý của vận đơn
- 5. Phân loại vận đơn
- 6. Vận đơn sạch, Vận đơn theo lệnh
- 6.1 Vận đơn sạch là gì?
- 6.2 Vận đơn theo lệnh là gì?
- 6.3 Nêu khái niệm vận đơn hoàn hảo?
- 6.4 Vận đơn theo pháp luật hàng hải Việt Nam?
1. Vận đơn là gì?
Vận đơn là văn bản ghi nhận việc tiếp nhận hàng lên phương tiện vận chuyển (đường bộ, đường biển hoặc đường không), là sự thừa nhận chính thức của người vận chuyển về việc tiếp nhận số hàng hoá liên quan lên phương tiện vận chuyển do mình quản lí và điều khiển để chuyển đến nơi được chỉ định trong hợp đồng vận chuyển và giao cho người nhận hàng được chỉ định.
Vận chuyển theo vận đơn bắt đầu được thực hiện từ đầu thế kỉ XIX ở các nước châu Âu và phát triển mạnh, nhất là trong lĩnh vực vận chuyển hàng hải, từ đầu thế kỉ XX.
Trong pháp luật Việt Nam, vận đơn được ghi nhận tại nhiều văn bản khác nhau như Bộ luật dân sự với việc quy định vận đơn như là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng vận chuyển tài sản; Bộ luật hàng hải; Luật hàng không dân dụng. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật hiện hành về vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ, đường sông không có quy định về vận đơn nhưng có quy định về việc lập “giấy vận chuyển", một loại chứng từ có chức năng pháp lí giống như vận đơn nhưng không có giá trị chuyển nhượng.
Trong pháp luật quốc tế, văn bản cơ sở về vận đơn là Công ước Bruxen ngày 25.8.1924, còn gọi là Công ước thống nhất một số quy tắc về vận đơn. Thông thường có các loại vận đơn sau:
1) Vận đơn đích danh - loại ghi rõ tên người nhận hàng và người vận chuyển chỉ trả hàng cho người có lai lịch ghỉ rõ trên vận đơn;
2) Vận đơn theo lệnh - loại ghi rõ tên ; người giao hàng hoặc những người do người giao hàng chỉ định sẽ phát lệnh trả hàng. Người vận chuyển chỉ được trả hàng một khi có lệnh của người được ghi tên trên vận đơn. Nếu vận đơn theo lệnh dụng giấy tờ giả mạo để nhập hoặc xuất được hàng hoặc để trốn được thuế... Việc buôn bán có thể là trực tiếp qua đường bộ, đường biển, đường không ghi rõ tên người phát lệnh trả hàng thì người giao hàng mặc nhiên được coi là người có quyền đó.
3) Vận đơn xuất trình (còn gọi là vận đơn vô danh). Vận đơn không ghi rõ tên người nhận hàng hoặc người phát lệnh trả hàng. Người vận chuyển có quyển trả hàng cho người nào xuất trình được vận đơn;
4) Vận đơn suốt là vận đơn kí phát cho cả quả trình vận chuyển hàng hoá trong liên hiệp vận chuyển, tức là trong việc vận chuyển có sự tham gia của những người vận chuyển thuộc các loại hình khác nhau như đường biển, đường bộ, đường sông, đường không.
Việc kí phát vận đơn, trong khung cảnh của luật chung về hợp đồng vận chuyển, là việc do các bên thoả thuận. Tuy nhiên, trong luật hàng hải, việc kí phát vận đơn phải được thực hiện một khi người thuê vận chuyển có yêu cầu. Người kí phát vận đơn là người vận chuyển.
Vận đơn có thể được kí phát trước khi hàng được chuyển lên phương tiện vận chuyển; tuy nhiên, loại vận đơn này hầu như không có giá trị giao dịch đối với người thứ ba. Thông thường, người thứ ba chỉ thực sự yên tâm giao dịch khi hàng đã được chuyển lên tàu; bởi vậy, vận đơn đáng tin cậy là vận đơn kí phát “sau khi lên hàng”.
Vận đơn phải ghi nhận những chỉ tiết cần thiết liên quan đến lai lịch của người vận chuyển, của người thuê vận chuyển, đến đặc điểm của hàng hoá vận chuyển, các chỉ tiết về lộ trình vận chuyển và về cước phí vận chuyển. Thế nhưng, trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, Việc vận đơn ghi không đầy đủ chỉ tiết không ảnh hưởng đến sự tồn tại và giá trị của hợp đồng vận chuyển hàng không (Điều 60 Luật hàng không dân dụng).
Người vận chuyển có quyền ghi vào vận đơn các điều khoản cho phép giải trừ trách nhiệm của mình trong trường hợp có tranh cãi hoặc tranh chấp về số lượng, đặc điểm kĩ thuật hoặc chất lượng của hàng hoá được vận chuyển. Trên nguyên tắc các điều khoản bảo lưu chỉ được ghỉ vào vận đơn trong hai trường hợp:
1) Hàng đóng gói trước khi giao cho người vận chuyển và do đó, người vận chuyển không thể kiểm tra nội dung bên trong;
2) Người vận chuyển không có điều kiện hoặc phương tiện để kiểm tra các lời khai của người thuê vận chuyển liên quan đến hàng hoá. Trong trường hợp này, người vận chuyển phải ghi rõ những chỉ tiết nào không kiểm tra được và lí do của việc không kiểm tra được. vị dụ: "hàng được đưa lên tàu chỉ 10 phút trước khi khỏi hành, không thể kiểm tra số luợng". Trong trường hợp vận chuyển hàng hải, luật Việt Nam cho phép người vận chuyển ghi chú vào vận đơn các nhận xét của mình về tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hãng hoá, nếu có nghỉ vấn (Khoản 1 Điều 868 Bộ luật hàng hải).
Trong việc thực hiện một hợp đồng thuê phương tiện vận chuyển, vận đơn có giá trị như một biên nhận hàng hoá hoặc một lời thừa nhận về sự tồn tại của hàng hoá trên phương tiện vận chuyển. Hàng hoá và vận đơn hoà nhập thành một và trong điều kiện đó, vận đơn trở thành một chứng từ chuyển nhượng được. Tuy nhiên, ở góc độ trách nhiệm của người vận chuyển, sự hoà nhập thành một giữa hàng hoá và vận đơn có thể không hoàn hảo một khi có các điều khoản bảo lưu do người vận chuyển đưa vào vận đơn một cách hợp lệ.
Vận đơn được xem như văn bản ghi nhận và chị phối quan hệ hợp đồng vận chuyển. Không chỉ là bằng chứng về việc giao kết hợp đồng, vận đơn còn là bằng chứng về nội dung của hợp đồng, đặc biệt là về nội dung các cam kết của người điều khiển phương tiện vận chuyển đã kí phát chứng từ đó cũng như các cam kết của người nhận chứng từ đó. Tuy nhiên, chức năng thứ hai này chỉ mang tính chất phụ trợ và chỉ được phát huy trong trường hợp không có cách nào khác để xác định nội dung của hợp đồng.
Chuyển nhượng vận đơn là việc chuyển nhượng hàng hoá trong thời gian còn được đặt dưới sự kiểm soát của người vận chuyển. Việc chuyển nhượng vận đơn được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
1) Vận đơn đích danh được chuyển nhượng bằng cách sang tên theo thủ tục do pháp luật quy định;
2) Vận đơn theo lệnh được chuyển nhượng bằng cách ghi vào ô kí hậu của vận đơn về người có quyền phát lệnh trả hàng;
3) Vận đơn vô danh được chuyển nhượng bằng cách trao tay cho người được chuyển nhượng.
2. Vận đơn bản sao (Copy bill of lading) là gì?
Vận đơn bản sao (Copy bill of lading) là vận đơn được sao, chụp... dưới bất kỳ hình thức nào, hoặc có chữ “bản sao” (copy) trên vận đơn.
3. Chức năng của vận đơn
+ Nó là bằng chứng xác nhận hợp đồng vận tải đã được ký kết và chỉ rõ nội dung của hợp đồng đó. Với chức năng này, nó xác định quan hệ pháp lý giữa người vận tải và người chủ hàng, mà trong đó, đặc biệt là quan hệ pháp lý giữa người vận tải và người nhận hàng.
+ Nó là biên lai của người vận tải xác nhận đã nhận hàng để chuyên chở. Người vận tải chỉ giao hàng cho người nào xuất trình trước tiên vận đơn đường biển hợp lệ mà họ đã ký phát ở cảng xếp hàng.
+ Nó là chứng từ xác nhận quyền sở hữu đối với những hàng hóa đã ghi trên vận đơn. Với chức năng này, vận đơn là một loại giấy tờ có giá trị, được dùng để cầm cố, mua bán, chuyển nhượng.
* Tác dụng của vận đơn
+ Làm căn cứ khai hải quan, làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa,
+ Làm tài liệu kèm theo hóa đơn thương mại trong bộ chứng từ mà người bán gửi cho người mua (hoặc ngân hàng) để thanh toán tiền hàng,
+ Làm chứng từ để cầm cố, mua bán, chuyển nhượng hàng hóa,
+ Làm căn cứ xác định số lượng hàng hóa đã được người bán gửi cho người mua, dựa vào đó người ta thống kê, ghi sổ và theo dõi việc thực hiện hợp đồng.
4. Nội dung và cơ sở pháp lý của vận đơn
Nội dung của vận đơn: thường chú ý đến những điểm sau đây
– Tên và địa chỉ người vận tải, những chỉ dẫn khác theo yêu cầu,
– Cảng xếp hàng,
– Cảng dỡ hàng,
– Tên và địa chỉ người gửi hàng,
– Tên và địa chỉ người nhận hàng, (rất quan trọng)
– Đại lý, bên thông báo chỉ định,
– Tên hàng, ký mã hiệu, số lượng kiện, trọng lượng cả bì hoặc thể tích,
– Cước phí và phụ phí trả cho người vận tải, điều kiện thanh toán,
– Thời gian và địa điểm cấp vận đơn,
– Số bản gốc vận đơn,
– Chữ ký của người vận tải (hoặc của thuyền trưởng hoặc người đại diện của thuyền trưởng, hoặc đại lý),
Cơ sở pháp lý của vận đơn:
Đây là qui định về nguồn luật điều chỉnh các điều khoản của vận đơn cũng như giải quyết sự tranh chấp giữa chủ hàng và người vận tải. Nguồn luật này, ngoài luật quốc gia còn có cả các công ước quốc tế có liên quan như qui tắc La Haye và công ước Brussel 25/8/1924, Nghị định thư Visby 1968 hoặc công ước Hamburg 1978 về vận đơn đường biển.
5. Phân loại vận đơn
1/ Căn cứ vào cách chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hóa ghi trên vận đơn
+ Vận đơn đích danh (Straight Bill of Lading)
+ Vận đơn theo lệnh (to Order Bill of Lading)
Ví dụ: công ty SONY bán hàng cho công ty SAO MAI, công ty SONY là người gửi, công ty SAO MAI là người nhận.
*/ Trường hợp thứ nhất, vận đơn được lập theo lệnh người gửi
Ở mục: “Consignee” người ta có thể ghi “to the order of shipper” hoặc “to the order of SONY” hoặc nếu chỉ ghi “to the order” thì cũng phải hiểu đó là theo lệnh người gửi. Với vận đơn này, mặt sau phải có ký hậu chuyển nhượng của công ty SONY. Ký hậu như thế nào là đúng???
*/ Trường hợp thứ hai, vận đơn được lập theo lệnh người nhận
*/ Trường hợp thứ ba, vận đơn được lập theo lệnh người thứ ba (người thứ ba thường là ngân hàng)
+ Vận đơn xuất trình (to Bearer Bill of Lading)
2/ Căn cứ vào cách phê chú trên vận đơn
+ Vận đơn hoàn hảo (Clean Billof Lading)
+ Vận đơn không hoàn hảo (Unclean Bill of Lading)
3/ Căn cứ vào cách chuyên chở người ta chia ra:
+ Vận đơn chở suốt (Through Bill of Lading)
+ Vận đơn đi thẳng (Direct B/L)
4/ Nếu so sánh thời gian cấp vận đơn với thời gian bốc hàng lên tàu thì người ta chia ra:
+ Vận đơn đã xếp hàng (Shipped on Board B/L)
+ Vận đơn nhận hàng để xếp (Received for Shipment B/L)
Ngoài những vận đơn như đã nêu ở trên, 2 loại vận đơn sau đây cũng thường được nói đến đó là vận đơn đến chậm và vận đơn theo hợp đồng thuê tàu.
+ Vận đơn đến chậm (Stale B/L)
+ Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu (Charter Party B/L)
5/ Vận đơn sử dụng trong vận tải đa phương thức
6/ Vận đơn của người giao nhận (House Bill of Lading – HBL) …
6. Vận đơn sạch, Vận đơn theo lệnh
6.1 Vận đơn sạch là gì?
Là loại vận đơn đường biển, trong đó không có gì chú gì về tình trạng hàng hóa, nghĩa là hàng hóa được người vận chuyển nhận trong tình trạng tốt. Loại này còn được gọi là vận đơn hoàn hảo, tiếng Anh là Clean Bill of Lading.
Ngược lại, là loại vận đơn bẩn, có ghi chú tình trạng hàng hóa không tốt, chẳng hạn như: thùng bị móp méo, rách vỡ.
6.2 Vận đơn theo lệnh là gì?
Cũng là loại vận đơn đường biển mà trong ô Consignee (người nhận hàng) đề nội dung yêu cầu người gửi hàng giao hàng theo lệnh của Consignee đó. Cụm từ thường là tiếng Anh như: To the Order of + tên Consignee.
Cùng nhóm này còn có Vận đơn đích danh (ghi rõ tên người nhận), và Vận đơn Vô danh (không ghi tên ai).
6.3 Nêu khái niệm vận đơn hoàn hảo?
Vận đơn hoàn hảo là vận đơn trên đó không có ghi chú của người vận chuyển về tình trạng xấu của hàng hóa hoặc bao bì bị khuyết tật hay bị hư hỏng.
6.4 Vận đơn theo pháp luật hàng hải Việt Nam?
Theo quy định pháp luật hàng hải hiện hành, vận đơn gồm có: Vận đơn đích danh, vận đơn theo lệnh, vận đơn vô danh.