Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu đến công ty của chúng tôi, để giải đáp thắc mắc của bạn, bạn hãy cùng chúng tôi theo dõi các nội dung sau:
Căn cứ pháp lý:
Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997
Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993
Hiến pháp Italia 1947
Hiến pháp Nhật Bản 1946
hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992
Đạo luật Liên bang Áo năm 1970
1. Vận động bầu cử
Giai đoạn này là một giai đoạn quan trọng trong tiến trình bầu cử, bởi vì chính giai đoạn này phần nhiều quyết định sự thành, bại của ứng cử viên và của các đảng chính trị tham gia tranh cử. Pháp luật về bầu cử của đa số các nước quy định nhà nước trang trải một phần kinh phí vân động bầu cử cho các ứng cử viên, các đảng chính trị. Phần lớn kinh phí vận động tranh cử do các ứng cử viên, các đảng chính trị tự lo liệu. Đồng thời pháp luật về bầu cử của các nước quy định giới hạn tối đa số tiền mà mỗi ứng cử viên, mỗi đảng chính trị được phép chi cho cuộc bầu cử. Ví dụ, ở Ân Độ giới hạn tối đa số tiền mà ứng cử viên được phép chi cho cuộc vận động bầu cử từ 50 nghìn đến 150 nghìn Rupi (các bang quy định khác nhau); ở Liên bang Nga, ứng cử viên vào chức danh Tổng thống Liên bang Nga được phép chi cho cuộc vận động bầu cử không quá 25 nghìn lần mức lương tối thiểu, tức là quãng hơn 3 tỷ rúp (thời điểm năm 1996). Theo luật bầu cử Mỹ, mỗi ứng cử viên vào Quốc hội Mỹ được phép nhận tiền quyên góp của mỗi cá nhân không quá 1.000 đôla, của mỗi pháp nhân không quá 5.000 đô la. Tuy nhiên số tiền thực chi cho cuộc vận động tranh cử của các ứng cử viên và các đảng chính trị lớn hơn rất nhiều so với số tiền mà luật hạn chế. Ví dụ, trong cuộc bầu cử lập pháp măm 1994, hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đã chi cho cuộc bầu cử 892 triệu đôla.
Ngoài ra pháp luật về bầu cử của các nước còn cho phép các ứng cử viên, các đảng chính trị sử dụng phương tiện thông tin đại chúng của nhà nước để tuyên truyền, vận động tranh cử. Ví dụ, ở Áo, Đức mỗi đảng được sử dụng truyền hình truyền thanh của nhà nước để tuyên truyền, vận động bầu cử với thời gian tỷ lệ với số lượng đại biểu của đảng đó ở Nghị viện. Ở Liên bang Nga các đảng chính trị được sử dụng phương tiện thông tin đại chúng của nhà nước (phát thanh, truyền hình) với thời gian như nhau và do ủy ban bầu cử trung ương phân bổ. Ở Italia một ủy ban đặc biệt của Nghị viện gồm đại diện của các đoàn Nghị sĩ sẽ quy định cụ thể thời gian, hình thức truyền hình, họp báo, đối thoại trực tiếp giữa các ứng cử viên, giữa đại diện của các đảng chính trị.
2. Bỏ phiếu :
Bỏ phiếu kín là một trong những 'bảo đảm quan trọng của sự tự do thể hiện nguyện vọng của củ tri. Thủ tục bỏ phiếu được pháp luật bầu cử của các nước (theo những thể thức khác nhau) điều chỉnh tương đối cụ thể. Một điểm chung cho các nước là pháp luật bầu cử quy định nguyên tắc bỏ phiếu kín và chỉ có những cá nhân có tên trong danh sách cử tri mới có quyền đi bỏ phiếu. Khi đến phòng bỏ phiếu, cử tri phải xuất trình giấy tờ tùy thân hoặc thẻ cử tri do nhân viên phụ trách bầu cử, đổng thời nhận phiếu bầu. Cử tri viết phiếu trong phòng kín sau đó gấp lại hoặc cho vào phong bì dán lại rồi ra ngoài tự tay bỏ vào thùng phiếu.
Pháp luật về bầu cử của các nước còn quy định việc bỏ phiếu của những cử tri trong ngày bầu cử không ở nơi mình đã đăng ký vào danh sách cử tri. Ví dụ, ở Mêhicô nơi cuộc bầu cử vào Nghị viện và bầu cử Tổng thống được tiến hành đồng thời trong một ngày. Trong ngày bỏ phiếu, cử tri nào đi nơi khác, không thể bỏ phiếu tại nơi mình đã ghi tên trong danh sách cử tri thì chỉ có quyền bỏ phiếu cho ứng cử viên thuộc đơn vị bầu cử của mình. Ví dụ, thành phố X là một đơn vị bầu cử, nơi cử tri A cư trú và đăng ký vào danh sách cử tri. Trong ngày bầu cử, cử tri A không ở khu vực bỏ phiếu của mình nhưng trong phạm vi thành phố X thì vẫn có quyền tham gia vào cuộc bầu cử vào Nghị viện và cuộc bầu cử Tổng thống. Nếu cử tri A ở ngoài phạm vi thành phố X thì A chỉ có quyền tham gia vào cuộc bầu cử Tổng thống (đối với cuộc bầu cử Tổng thôrig cả nước là một đơn vị bầu cử).
Pháp luật về bẩu cử của Anh, Đức cho phép những cử tri nói trên được bỏ phiếu theo đường bưu điện. Pháp luật về bầu cử của Pháp còn cho phép bỏ phiếu theo sự ủy quyền. Theo quy định của pháp luật, những cá nhân sau đây có quyền làm giấy ủy quyền cho người khác bỏ phiếu thay mình: Những công dân Pháp trong ngày bầu cử đang ở nước ngoài; cử tri đi công tác hay vì lý do nào đó không có mặt tại khu vực bỏ phiếu, nơi đã ghi tên trong danh sách cử tri; cử tri vì lý do sức khỏe không thể đến nơi đặt hòm phiếu để bỏ phiếu.
Cá nhân được ủy quyền sẽ được ghi tên vào danh sách cử tri của khu vực bổ phiếu tương ứng. Mỗi cá nhân được phép nhận không nhiều hơn hai giấy ủy quyền. Giấy ủy quyền có thể bị hủy bỏ và làm lại. Trường hợp người ủy quyền bị chết hay bị tước quyền bầu cử thì giấy ủy quyền sẽ bị hủy bỏ.
3. Kiểm phiếu và xác định kết quả bầu cử :
Sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc, các tổ chức phụ trách bầu cử ở khu vực bỏ phiếu lập tức tiến hành việc kiểm phiếu. Việc kiểm phiếu được tiến hành công khai. Trước hết phải xác định số lượng cử tri ở khu vực bỏ phiếu đã tham gia bỏ phiếu, sau đó đối chiếu với số phiếu bầu ở trong thùng phiếu có phù họp hay không, rồi xác định số phiếu hợp lệ và không hợp lệ.
Kết quả cuộc bầu cử được xác định trước hết ở từng đơn vị bầu cử. Kết quả này được chuyển lên cho ủy ban bầu cử Trung ương. Trên cơ sở những văn bản do các tổ chức phụ trách bầu cử ở đơn bị bầu cử gửi đến, ủy ban bầu cử trung ương xác nhận tính hợp pháp của cuộc bầu cử ở từng đơn vị bầu cử rồi công bố kết quả bầu cử, trong trường hợp cần thiết, tuyên bố bỏ phiếu vòng hai.
4. Liên hệ với Việt Nam:
4.1 Hình thức, nội dung phiếu bầu cử:
Phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân từng cấp phải được in riêng từng loại trên 01 mặt trang giấy A5 (21cm x 14,8cm) theo chiều dọc khổ giấy. Màu sắc từng loại phiếu bầu cử do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lựa chọn nhưng không được trùng màu với các loại Phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội hay Phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp khác trên cùng địa bàn.
Phiếu bầu cử hợp lệ phải có dấu của Tổ bầu cử ở góc phía trên bên trái. Trên phiếu phải ghi rõ:
- Tên đơn vị bầu cử.
- Tên phiếu bầu cử (Phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV hay Phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân khóa mấy, nhiệm kỳ 2021 - 2026 của đơn vị hành chính cụ thể nào).
- Số lượng đại biểu Quốc hội được bầu do Hội đồng Bầu cử Quốc gia ấn định cho đơn vị bầu cử đó đối với Phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu do Ủy ban bầu cử tương ứng ấn định cho đơn vị bầu cử đó đối với Phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
- Phần ghi họ và tên những người ứng cử tại đơn vị bầu cử xếp tên theo vần chữ cái A, B, C... như trên danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu đã được công bố. Họ và tên mỗi người ứng cử ghi ở một dòng riêng. Đằng trước họ và tên có từ "ông" hoặc "bà" tương ứng với giới tính của từng người ứng cử. Trường hợp người ứng cử có tên khai sinh, tên thường gọi khác nhau hoặc có tên gọi khác thì ghi tên khai sinh trước; tên thường gọi, tên gọi khác hoặc pháp danh kèm theo pháp hiệu được ghi và đặt trong dấu ngoặc đơn ở phía sau. Có thể viết trong cùng 01 dòng hoặc tách thành 02 dòng liền nhau nhưng có cùng kiểu chữ, cỡ chữ.
Trường hợp họ và tên của những người ứng cử có phần tên giống nhau thì căn cứ vào phần họ để xác định thứ tự; trường hợp phần họ cũng giống nhau thì căn cứ vào phần tên đệm. Trường hợp trùng hoàn toàn cả họ, tên và tên đệm thì xếp theo ngày tháng năm sinh; người nào có ngày tháng năm sinh sớm hơn thì được xếp trước; trên phiếu bầu cử sẽ ghi thêm ngày tháng năm sinh trong dấu ngoặc đơn ngay cạnh phần họ và tên của những người ứng cử có họ và tên giống nhau.
Việc tổ chức in ấn phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện; việc tổ chức in ấn Phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào do Ủy ban nhân dân ở cấp đó thực hiện. Các địa phương căn cứ vào điều kiện, tình hình thực tế, danh sách cử tri của địa phương để quyết định tổng số phiếu bầu cử cần in (bao gồm cả tỷ lệ phiếu dự phòng cần thiết). Việc in ấn, bàn giao, quản lý phiếu bầu cử phải được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định. Tại các khu vực bỏ phiếu, trước khi mở hòm phiếu để kiểm phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm đếm, thống kê, lập biên bản và niêm phong toàn bộ số phiếu bầu cử chưa sử dụng, số phiếu gạch hỏng bị đổi trả lại theo đúng quy định.
4.2 Lễ khai mạc cuộc bầu cử :
Khi đến giờ bắt đầu bỏ phiếu theo quy định, Tổ bầu cử phải tổ chức lễ khai mạc cuộc bầu cử tại phòng bỏ phiếu.
Thành phần tham dự lễ khai mạc bao gồm:
- Các thành viên Tổ bầu cử, những người có nhiệm vụ liên quan đến công tác bầu cử.
- Đại diện cơ quan đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể ở địa phương.
- Đại diện cử tri là người cao tuổi, người có công với cách mạng và chức sắc tôn giáo trong khu vực (nếu có).
- Cử tri đến dự lễ khai mạc.
- Phóng viên báo, đài (nếu có).
Tổ trưởng Tổ bầu cử chủ trì lễ khai mạc theo trình tự sau đây:
- Chào cờ, tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu.
- Đọc diễn văn khai mạc. Diễn văn khai mạc cần được chuẩn bị trang trọng, ngắn gọn, súc tích, nêu được mục đích, ý nghĩa của việc bầu cử.
- Đọc nội quy phòng bỏ phiếu.
- Kiểm tra hòm phiếu chính, hòm phiếu phụ trước sự chứng kiến của cử tri; mời 02 cử tri không phải là người có tên trong danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tại đơn vị bầu cử nơi có khu vực bỏ phiếu chứng kiến việc kiểm tra hòm phiếu, sau đó niêm phong hòm phiếu chính, hòm phiếu phụ theo quy định.
- Sau khi thực hiện thủ tục niêm phong hòm phiếu, Tổ trưởng Tổ bầu cử tuyên bố cuộc bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 bắt đầu.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!