1. Vật đồng bộ là gì?

Theo Điều 114 Bộ luật dân sự 2015:

Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.

Quan hệ tài sản trong xã hội ngày một đa dạng, phong phú. Các sản phẩm xã hội ngày càng được tạo ra nhiều hơn, đáp ứng các nhu cầu sống, lao động, sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ của các chủ thể. Các quan hệ về tài sản theo đó cũng phát triển theo. Pháp luật quy định về vật đồng bộ nhằm điều chỉnh các quan hệ giao dịch có đối tượng là vật, để bảo vệ các quyền, .lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể tham gia giao dịch. Đồng thời là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp liên quan đến đối tượng của quan hệ là vật đồng bộ.

Vật đồng bộ, theo quy định tại Điều 114 Bộ luật dân sự 2015 là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể của vật.

Vật đồng bộ được xác định theo các tiêu chí về cơ cấu cơ học là các phần hoặc các bộ phận ăn khớp với nhau, liên hệ với nhau để hợp thành một vật có giá trị sử dụng đáp ứng nhu cầu của chủ thể trong sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của con người như các phương tiện giao thông, các phương tiện nghe, nhìn, các sản phẩm khác thiết yếu khác.

Vật đồng bộ được hiểu là một dây chuyền trong sản xuất công ghiệp. Việc áp dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ ngày càng được quan tâm trong xã hội. Một dây chuyền sản xuất là vật đồng bộ, gồm nhiều bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành một hệ thống chỉnh thể sản xuất theo dây chuyền để tạo ra sản phẩm. Các doanh nghiệp, công ty trong sản xuất mua bán, thuê một dây chuyền sản xuất, thì bên bán, bên cho thuê có nghĩa vụ chuyển giao một dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh cho bên mua, bên thuê. Vật đồng bộ trong trường họp này là cả một hệ thống các vật là bộ phân ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể là dây chuyền sản xuất của một doanh nghiệp, công ty.

Vật đồng bộ là vật riêng lẻ, độc lập cấu tạo nên ôtô, xe máy, ti vi, máy lạnh... Được cấu tạo tự các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể một vật là ôtô, xe máy, ti vi, máy lạnh... Các bộ phận linh kiện, các chi tiết cơ khí, cơ - điện, bán dân, điện tử được lắp ráp, ăn khớp nhau, liên hệ với nhau để tạo thành ôtô, xe máy, ti vi, máy lạnh.

Vật đồng bộ được hiểu theo quy định tại Điều 114 Bộ luật dân sự 2015, đồng thời là căn cứ để xác định vật không đồng bộ.

2. Vật đồng bộ và vật không đồng bộ?

Vật đồng bộ được hiểu theo quy định tại Điều 114 Bộ luật dân sự 2015, đồng thời đây là căn cứ để xác định vật không đồng bộ.

>> Xem thêm:  Thế nào là quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng ?

Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.

Vật không đồng bộ được hiểu là vật có phần hoặc các phần, các bộ phận không ăn khớp nhau, không liên hệ hoặc liên hệ kém với nhau hợp thành một vật không chỉnh thể, có giá trị sử dụng kém hoặc không sử dụng được. Xác định vật thiếu tính đồng bộ căn cứ vào cơ cấu của các bộ phận, các phần không ăn khớp nhau hợp thành vật. Vật không đồng bộ còn là vật có cơ cấu hoàn chỉnh do các phần, các bộ phận vẫn ăn khớp với nhau, nhưng các phần hoặc bộ phận không cùng chủng loại, mà do chắp vá, lắp ráp cố ý để tạo thành vật.

Vật không đồng bộ thuộc trường hợp này khá phổ biến trên thị trường. Thị trường tự do, nhiều cơ sở kinh doanh không tuân thủ những quy định của pháp luật về kinh doanh, đã vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Trường hợp này thường diễn ra trong mua bán các sản phẩm được sản xuất theo công nghệ như các phương tiện nghe nhìn: Ti vi, radio-catsette, xe máy, máy lạnh... linh kiện, phụ tùng của nhiều hãng có chất lượng rất khác nhau, được lắp ráp, liên kết để tạo thành một sản phẩm có chất lượng kém bán ra thị trường. Ví dụ vỏ tivi gắn nhãn hiệu Nhật Bản, nhưng các linh kiện, phụ tùng, các mảng tích hợp bán dẫn lại là của Trung Quốc...

Quy định vật đồng bộ để có căn cứ viện dẫn khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến các quan hệ chuyển giao vật là thật sự cần thiết. Vì vậy, Điều 114 BLDS năm 2015 đã đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống lao động, sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường ở Việt Nam.

3. Giao dịch liên quan đến vật đồng bộ.

Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận hợp thành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Điều luật này quy định nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự có đối tượng là vật. Trong một quan hệ hợp đồng chuyển giao tài sản, gia công đặt hàng, thuê tài sản, mua bán tài sản... thì việc chuyển giao đúng đối tượng là nghĩa vụ của bên chuyển giao, nếu vi phạm đối tượng của hợp đồng, thì bên có quyền có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải chuyển giao đúng đối tượng của hợp đồng.

Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể của vật, nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút. Do đó, pháp luật quy định khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phần, các bộ phận hợp thành. Nếu không chuyển giao toàn bộ thì vật này có thể không có giá trị sử dụng.

4. Thế nào là quyền tài sản?

- Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền”.

Quyền tài sản có thể được hiểu theo nghĩa rộng là tổng hợp các quyền và lợi ích của chủ thể trong việc chi phối, kiểm soát tài sản gồm chủ sở hữu và người có quyền khác đối với tài sản.

>> Xem thêm:  Quyền hưởng dụng là gì ? Phân tích nội dung quyền hưởng dụng theo luật ?

Quyền tài sản hiểu theo nghĩa hẹp nhằm để xác định quyền này đối với tài sản hữu hình hay quyền đối với tài sản vô hình.

- Quyền tài sản trong pháp luật nước ngoài:

Là một loại quyền chủ thể. Khái niệm quyền tài sản được xây dựng trong khuôn khổ chế định quyền chủ thể, chế định được coi là xương sống của hệ thống luật ở các nướcc theo văn hoá pháp lý Rô măng- Giéc manh. Quyền chủ thể được hiểu là việc hạn chế quyền tự do của những người khác theo quy định của pháp luật, vì lợi ích của chủ thể quan hệ pháp luật trong việc thực hiện các quyền được thừa nhận trong một lĩnh vực nào đó. Chẳng hạn, quyền sở hữu đối với một tài sản sinh lợi là quyền của chủ sở hữu được độc quyền sử dụng tài sản, thu hoa lợi từ tài sản và định đoạt tài sản; tất cả mọi người phải tôn trọng quyền đó và mọi hành vi xâm phạm quyền đó đều có thể bị chế tài theo quy định của pháp luật. Quyền đối với họ, tên là quyền của một chủ thể quan hệ pháp luật được mang họ và tên, được hưởng sự bảo vệ của pháp luật đối với sự toàn vẹn của họ và tên, chống lại sự xúc phạm họ, tên, sự chiếm đoạt họ, tên. Xét theo tiêu chí giá trị tài sản của quyền, thì quyền chủ thể được phân thành hai loại: quyền không định giá được bằng tiền, gọi là quyền nhân thân, và quyền định giá được bằng tiền, gọi là quyền tài sản. Trên nguyên tắc, quyền tài sản có thể chuyển giao được trong giao lưu dân sự và do đó, là sự bảo đảm đối với các nghĩa vụ tài sản mà người có quyền xác lập. Cá biệt, có những quyền có giá trị tài sản, nhưng lại gắn liền với nhân thân, bởi vậy, không thể được chuyển giao và không thể được kê biên.

Quyền tài sản là một cách nhìn nhận tài sản như một khái niệm pháp lý. Ở góc độ pháp luật tài sản, quyền và vật được đặt đối lập với nhau, không để phân ra hai loại tài sản khác nhau, mà đưa ra hai cách hình dung khác nhau về tài sản, hai cách tiếp cận khác nhau đối với tài sản. Về mặt pháp lý, tài sản có thể được nhận biết như là một vật hoặc một quyền. Việc phân loại tài sản chỉ được thực hiện sau khi việc lựa chọn cách tiếp cận - vật hay quyền - đã ngã ngũ. Tài sản được phân loại theo những cách khác nhau tuỳ theo nó được hiểu là vật hay quyền.

- Là vật, tài sản được phân loại theo tiêu chí vật lý: vật có thể nhận biết được bằng giác quan tiếp xúc gọi là vật hữu hình; trong trường hợp ngược lại ta có vật vô hình.

- Là quyền, tài sản cũng được phân loại theo tiêu chí vật lý, nhưng cách thiết lập tiêu chí vật lý mang tính đặc thù. Các quyền được thực hiện trực tiếp trên một vật hữu hình mà không cần sự hỗ trợ của một người nào khác gọi là quyền đối vật , mà tiêu biểu nhất là quyền sở hữu. Các quyền được thực hiện chống lại một người gọi là quyền đối nhân ; quyền chủ nợ là quyền đối nhân điển hình.

5. Quyền sử dụng đất có phải là quyền tài sản không?

Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”.

Theo nội dung quy định tại Điều 115 Bộ luật dân sự thì quyền tài sản gồm:

- Quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Quyền của chủ văn bằng bảo hộ đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng; quyền tác giả đối với tác phẩm văn học - nghệ thuật, khoa học; quyền của chủ sở hữu quyền tác giả và các quyền của chủ thể có quyền liên quan đến quyền tác giả.

- Quyền sử dụng đất. Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện cho sở hữu toàn dân và Nhà nước thống nhất quản lý đất đai. Nhà nước giao đất cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác để sử dụng vào sản xuất và sử dụng vào việc xây dựng nhà và các công trình khác trong thời hạn nhất định hoặc sử dụng lâu dài (đất ở là loại đất sử dụng lâu dài)... Theo đó, chủ thể có quyền sử dụng đất là chủ sở hữu của một loại quyền là quyền sử dụng đất. Đây là một quy định rất độc lập, rất đặc thù ở Việt Nam về đất đai.

Các quyền tài sản khác là quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng và các quyền nhân thân khác của cá nhân bị xâm phạm; quyền yêu cầu thanh toán một khoản tài sản...

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thế nào là tài sản hiện có?

Trả lời:

Điều 108 Bộ luật dân sự 2015:

Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.

Câu hỏi: Động sản là gì theo quy định của pháp luật?

Trả lời:

Bộ luật dân sự 2015:

Điều 107. Bất động sản và động sản

1. Bất động sản bao gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.

Câu hỏi: Hoa lợi, lợi tức là gì?

Trả lời:

Bộ luật dân sự 2015:

Điều 109. Hoa lợi, lợi tức

1. Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại.

2. Lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản.