Luật sư trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê của chúng tôi, trường hợp của bạn được tư vấn như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
2. Nội dung tư vấn:
Với nội dung câu hỏi: "Mình muốn hỏi là mình có vay tiền online theo lãi suất 37% 1 tháng ( tức vay nóng 1. 000. 000 trả lãi 370. 000 đồng 1 tháng ). Bên vay chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng , mình muốn hỏi là nếu mình không có khả năng chi trả thì bên vay có quyền truy tố pháp luật không ạ. Số tiền vay là 2. 000. 000.đ"
Thứ nhất, bạn không nêu cụ thể rằng hình thức này có hợp đồng vay hay không, nhưng bạn vẫn có nghĩa vụ trả tiền cho bên cho vay khi đến hạn ( Điều 466 BLDS 2015)
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Nếu bạn không có đủ điều kiện trả nợ thì bạn phải có văn bản thông báo đến bên cho vay nêu rõ điều kiện, hoàn cảnh khó khăn hiện tại và xin gia hạn trả nợ, đến tháng dù ít dù nhiều cũng phải trả cho bên cho vay. Để tránh dẫn tới việc bên kia tố cáo bạn ra cơ quan công an về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: ( Điều 174 BLHS 2015)
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
Như vậy nếu bạn có hành vi bỏ trốn hoặc dời khỏi nơi cư trú hoặc chặn điện thoại thông tin khác để bên cho vay không liên lạc được thì họ có quyền tố cáo ra cơ quan công an nếu bạn không ký kết hợp đồng với họ.
Thứ hai, nếu bạn vẫn trả tiền, hoặc xin gia hạn trả nợ thì họ chỉ có thể kiện bạn ra tòa án để kiện đòi tài sản dựa trên hợp đồng vay tiền và biên bản giao nhận tiền.
Điều 26. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.
2. Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.
3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.
4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này.
5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.
6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
7. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính........
Vì việc này thuộc thẩm quyền của tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nêu trên nên tòa án sẽ giải quyết vấn đề của bạn nhưng đối với phần lãi suất vượt quá mức lãi suất 20%/năm sẽ bị tuyên vô hiệu và không được tính với bạn theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.
Như vậy, bạn có thể bị khởi kiện ra tòa án khi nợ quá hạn hoặc bị tố giác ra cơ quan công an nếu bạn có dấu hiệu của hành vi lừa đảo thì bạn vẫn có thể bị khởi tố về hành vi đó.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê