1. Vay tiền bỏ trốn có phải lừa đảo tài sản ?

Thưa Luật sư, tôi có một người em họ, em có vay tiền tôi và hai người bạn của tôi để mở cửa hàng kinh doanh có ký hợp đồng. Tổng số tiền là hơn 1 trăm triệu đồng. Đến bây giờ đã hơn 3 tháng, người em họ của tôi đã bỏ trốn khỏi địa phương và còn nói là không trả tiền. Vậy theo pháp luật hiện hành thì hợp đồng vay giữa em họ tôi cùng 2 người bạn có hợp pháp không?
Em họ tôi có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không? Nếu có thì tôi có thể làm gì để lấy lại được tiền?
Mong luật sư tư vấn giúp ạ.Tôi xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin phép được giải đáp như sau:

Thứ nhất, về hiệu lực của hợp đồng vay. Bộ luật dân sự năm 2015) có quy định:

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Hợp đồng vay không có yêu cầu bắt buộc về mặt hình thức, cho nên hợp đồng vay này có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, cụ thể là :

- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

Dựa vào những thông tin bạn cung cấp thì hợp đồng vay này có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, trách nhiệm của em bạn:

- Về trách nhiệm dân sự

Bộ luật dân sự 2015 có quy định về thực hiện hợp đồng vay như sau:

Điều 469. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.

Điều 470. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.

2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Như vậy, nếu là vay có kỳ hạn thì khi chưa đến hạn, bạn không thể đòi số tiền mình đã cho vay được.

Nếu là vay không kỳ hạn có lãi hay không có lãi thì khi bạn thông báo về việc trả tiền nhưng bên vay lại không đồng ý trả, tức là đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn và 2 người bạn kia có thể khởi kiện tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi em bạn cư trú hoặc nơi hợp đồng được thực hiện để giải quyết Bộ luật hình sự 2015

- Về trách nhiệm hình sự

Với việc vay tiền rồi bỏ trốn, em bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Nếu ngay từ đầu em bạn đã dùng thủ đoạn gian dối để vay tiền của bạn rồi bỏ trốn thì có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Ở đây số tiền vay lên đến hơn 100 triệu thì đây sẽ là tình tiết tăng nặng, cụ thể bị phạt tù từ 2 đến 7 năm.

Nếu ban đầu em bạn không dùng thủ đoạn gian dối, mà vay tiền một cách hợp pháp nhưng trong quá trình kinh doanh thua lỗ, nên đã nảy sinh ý định bỏ trốn thì có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 175 Bộ luật hình sự 2015

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13
...
35. Sửa đổi, bổ sung Điều 175 như sau:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Số tiền vay là hơn 100 triệu đồng thì đây là tình tiết tăng nặng, cụ thể bị phạt tù từ 2 đến 7 năm.

Ở đây, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, bạn có thể gửi đơn tố cáo ( mẫu tại đây) đến cơ quan công an nơi bạn cư trú theo Sau khi xác định cơ quan có thẩm quyền, cơ quan công an sẽ làm thủ tục chuyển quyền điều tra vụ án cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị chồng bạo lực gia đình muốn tố cáo để răn đe thì viết đơn như thế nào ?

2. Chạy điểm nhưng bị lừa đảo

Thưa luật sư, Em hiện tại là sinh viên, do bảo lưu nên không đủ thời gian để hoàn thành điểm môn học để ra trường. Được đứa em giới thiệu người chạy điểm trên mạng, em đã gọi và giao dịch anh ta hứa sau khi chuyển tiền điểm sẽ được cập nhật trên hệ thống Website trường.
Nhưng sau khi chuyển xong tiền thì anh ta chặn số, em biết mình đã bị lừa. Và số tiền em chuyển khoản là 9 triệu đồng trong 3 lần gửi. Em có giữ lại biên lai, có số tài khoản, CMND của người nhận tiền. Vậy cho e hỏi trong trường hợp chạy điểm này em có quyền thưa lên công an không? Và khi thưa em có bị phạt hành chính hay phải đóng phí gì không?
Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Do bạn không nói rõ người mà bạn đưa tiền để chạy bằng có chức vụ, quyền hạn gì trong trường đại học hay không, vì vậy chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Trường hợp 1: Nếu người mà bạn đưa tiền có chức vụ, quyền hạn liên quan: thì người đó sẽ phạm tội nhận hối lộ hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Điều 354. Tội nhận hối lộ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Lợi ích phi vật chất.

Phân tích tội quy định tại điều 354 Bộ luật Hình sự:

- Chủ thể: người có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ. Như vậy, người phạm tội phải là người có chức vụ, quyền hạn. Chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện việc nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ. Trong trường hợp trên, cần phải xét xem người nhận tiền của bạn có chức vụ quyền hạn trong việc nhập dữ liệu, hay bất cứ quyền hạn gì trong việc nhập điểm vào website của trường học bạn hay không.

- Hành vi: Người phạm tội phải trực tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ hoặc người phạm tội qua trung gian để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ: Người nhận hối lộ phải có hành vi nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất của người đưa hối lộ, hành vi này có thể trực tiếp hoặc qua trung quan (người thứ 3 hoặc nhiều người khác).

Đã nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác: người nhận hối lộ đã chiếm hữu số tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác

Sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác: Người nhận hối lộ và người đưa hối lộ mới thỏa thuận với nhau về tiền, tài sản hối lộ nhưng chưa giao nhận.

Để làm hoặc không làm một việc gì vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ: Đây là dấu hiệu rất quan trọng thuộc mặt khách quan của tội phạm này.

Đã làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ là hành vi sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình để giải quyết cho người đưa hối lộ một việc nào đó mà việc đó có lợi cho chính người đưa hối lộ.

Trong trường hợp của bạn, người kia nhận số tiền 9 triệu với yêu cầu là sửa điểm cho bạn, tuy nhiên, cần phải xem xét lý do mà họ không tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Trường hợp thứ hai, nếu người nhận tiền của bạn là người không có chức vụ quyền hạn, nhưng có hành vi gian dối làm cho bạn tin tưởng và giao tiền cho mình. Thì trường hợp này có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp này, nếu người mà bạn đưa tiền có chức vụ, quyền hạn để thực hiện những yêu cầu của bạn thì người đó phạm tội nhận hối lộ. Bạn là người đưa tiền vì vậy bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ quy định tại điều 364 Bộ luật Hình sự. Số tiền mà bạn đưa cho người đó sẽ bị tịch thu theo quy định

Nếu người đó lợi dụng chức vụ, quyền hạn dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bạn thì tài sản đó sẽ được trả lại cho bạn.

Trường hợp 2: Nếu người mà bạn đưa tiền không có chức vụ, quyền hạn:

Nếu người mà bạn đưa tiền không có chức vụ, quyền hạn liên quan và cũng không có quan hệ với những người có chức vụ, quyền hạn để thực hiện yêu cầu của bạn thì người đó phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tài sản mà bạn bị chiếm đoạt sẽ được trả lại theo quy định tại điều 49 Bộ luật Hình sự:

Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi

1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.

2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

Trong trường hợp này bạn có thể viết đơn kiện gửi tới cơ quan có thẩm quyền để giải quyết.

3. Có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ?

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

Thưa luật sư, cho em hỏi trường hợp này với ạ. Em có tìm hiểu 1 trung tâm nhận hồ sơ thi bằng lại xe máy. Bên họ có gói hồ sơ 900.000 đồng chỉ cần đến đấy 30 phút rồi về nhất định sẽ có bằng. Vậy mà bạn em đến đấy họ bắt thi. Thi trượt thì bảo đi thi lại vào ngày khác.

Vậy là họ đã lấy không của bọn em 900.000 đồng mà bọn em không được gì cả. Theo luật sư thì họ có phạm tội lừa đảo chiếm đoat tài sản ko ạ?
Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Tú Anh

>> Luật sư tư vấn luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015

Mặt khách quan của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối ở đây là đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác. Hành vi này có thể thông qua lời nói; xuất trình giấy tờ giả mạo; giả danh cán bộ; giả danh tổ chức ký kết hợp đồng. Hành vi này khiến cho người bị hại tin tưởng giao tài sản một cách tự nguyện cho người phạm tội.

Hậu quả: Khoản 1 của điều luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2 triệu đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp này, những người bên trung tâm nhận bằng lái xe đã có hành vi lừa đảo qua việc nhận tiền của các bạn và hứa sẽ giúp các bạn có được bằng lái xe mà không cần phải thi, nhưng thực tế họ đã không làm như lời họ đã hứa. Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 900.000 đồng, như vậy giá trị tài sản bị chiếm đoạt này chưa đạt mức để có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, những người bên trung tâm nhận bằng lái xe máy sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản do chưa thỏa mãn được mặt khách quan của tội phạm. Họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. tố cáo hành vi LĐCĐ TS qua mạng ?

Thưa luật sư, Tôi có chuyển tiền cho N để mua hàng qua mạng nhưng không nhận được hàng ? Tôi phải làm sao ? Có thể tố cáo hoặc khởi kiện N được không ? căn cứ vào quy định nào ? Xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo như bạn trình bày, bạn có đưa tiền cho N tuy nhiên không liên lạc được để lấy đồ; bạn chưa nói rõ số tiền bạn đưa cho N là bao nhiêu như vậy có thể N sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 BLHS 2015

Nếu giá trị số tiền chuyển khoản bạn chuyển khoản cho N chưa đến mức 2 triệu đồng và cũng không thuộc một trong các trường hợp theo quy định trên thì N sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:...

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;...

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm a, b, c Khoản 1; Điểm c, đ, e Khoản 2 Điều này...."

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ emailTư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo