1. Vay tiền cố tình không trả có cấu thành tội lừa đảo ?

Kính thưa luật sư. Năm 2014 em trai của em cùng 1 người bạn nữa có nhờ 1 bạn cùng học xin điểm cho để đủ điểm tốt nghiệp ra trường. Phí để lo lót là 8 triệu 1 môn. Riêng em trai em đưa cho đối tượng đó 10 triệu đồng còn bạn của em trai em đưa cho đối tượng này 16 triệu. Ngoài ra 1 người bạn của đối tượng này có vay hộ (vay lãi ngày) đối tượng này 14 triệu và qua 2 năm số tiền phải trả cho bên chủ vay là 30 triệu. Tuy nhiên giữa người em của em và người vay hộ đều quá tin tưởng đối tượng nên không hề làm giấy vay nợ còn người bạn kia của em trai em có yêu cầu viết giấy vay nợ. Tuy nhiên qua hơn 1 năm trôi qua đối tượng này vẫn không trả lại tiền và đã rời khỏi nơi tạm trú.
Vậy em muốn hỏi bây giờ gia đình em và những người bị hại có thể viết đơn gửi lên cơ quan nào để tố giác tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của đối tượng trên ạ? Trường hợp không có giấy tờ chứng minh vay nợ có được hỗ trợ giải quyết của pháp luật không ạ? Nội dung đơn từ có theo mẫu nào không ạ?
Rất mong được sự hỗ trợ giải đáp từ phía luật sư. Xin chân thành cảm ơn luật sư.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì vì quá tin tưởng đối tượng nên người em của bạn và người vay hộ tiền cho đối tượng trên đã không làm giấy vay nợ. Hiện tại đã hơn 1 năm trôi qua, đối tượng trên vẫn không chịu trả tiền và đã rời khỏi nơi cư trú. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi của Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác như vậy trong trường hợp này do đối tượng đã rời khỏi nơi tạm trú mà không hề thông báo gì cho bạn về việc trả lại tiền nên bạn hoàn toàn có thể làm đơn tố giác về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 174 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 .

" Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

....."

Do những dữ kiện bạn cung cấp chưa đủ nên chúng tôi đưa ra định hướng cho bạn như sau:

Hành vi trên có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi thỏa mãn 4 yếu tố cấu thành sau:

- Về khách thể: Khách thể của tội lừa đảo lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

- Về mặt khách quan: Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối.Đó là hành vi dùng thủ đoạn giao dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Về hành vi, có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản: Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả ( không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết, bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác nhau như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản. Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lý kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản. Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt ( chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Gía trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên. Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiệm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

- Về mặt chủ quan: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện là hành vi gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn xảy ra hậu quả đó. Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo.Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng.

- Về chủ thể: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Theo đó, trước tiên bạn cần làm đơn tố giác đến cơ quan công an xã/phường/thị trấn nơi bạn cư trú. Sau khi xem xét và xác định cơ quan có thẩm quyền, cơ quan công an sẽ làm thủ tục chuyển quyền điều tra vụ án cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Nội dung đơn tố giác bao gồm: Họ tên, địa chỉ của người tố cáo; họ tên, chức vụ, hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo; những yêu cầu liên quan của người tố cáo. Bạn cũng có thể tham khảo mẫu đơn tố cáo tại đây .Dựa theo đơn tố cáo của bạn, vụ việc sẽ được xem xét có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự hay không theo quy định tại điều 146 BLHS như sau :

Điều 146. Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 145 của Bộ luật này phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận.

Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận.

2. Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết.

3. Công an phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Công an xã có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

4. Các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thì chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho Cơ quan điều tra nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản.

5. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.

......”

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì không có giấy tờ chứng minh vay nợ thì bạn cần phải tạo lập bằng chứng về việc vay, mượn và làm rõ số tiền là bao nhiêu ví dụ như giấy tờ chuyển khoản, ghi âm điện thoại, người làm chứng.. lúc này cơ quan có thẩm quyền sẽ hỗ trợ cho bạn trong quá trình đòi lại tiền kể cả trong trường hợp không có hợp đồng vay tiền.

Ngoài ra, với tình tiết trên có thể xem xét hành vi này với tội danh theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn đchiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản........".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Hiếp dâm không thành có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ?

2. Liệu có bị truy tố hình sự về tội lừa đảo tình cảm của người khác ?

Xin hỏi luật sư ! Em là ,T năm nay 22 tuổi, em có yêu một cô gái làm trong ngành trinh sát của Bộ quốc phòng. Tụi em quen nhau được một tháng rồi gặp nhau. Cô ấy ở xa nên trong thời gian cô ấy về chỗ em công tác đã về nhà em ở.
Cô ấy ở xa nên trong thời gian cô ấy về chỗ em công tác đã về nhà em ở. Chúng em đã có quan hệ mấy lần. Bây giờ cô ấy đã có con với em mấy tháng nhưng chúng em bị trục trặc vì tình cảm nên cô ấy chia tay với em. Cô ấy có gọi điện cho em bảo sẽ bắt em về tội lừa đảo tình cảm của người khác. Mong luật sư giải thích giúp em chuyện này với ! Liệu em có bị truy tố hình sự không ạ ?
Em cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn luật hình sự, gọi: 1900.0159

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp thì có thể thấy hai bạn chưa kết hôn và hai bạn đều trên 18 tuổi nên chưa cấu thành hành vi phạm tội.

Căn cứ vào Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì không hề có một qui định nào về tội lừa dối tình cảm hay lừa đảo tình cảm của người khác, trừ trường hợp lừa đảo nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị truy tố hình sự. Vì vậy, trong trường hợp này, bạn sẽ không bị truy tố hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Hình phạt với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, Tôi Tên là BKH, trong quá trình quen biết, khoảng tháng 08/2012 tôi có cho 02 người bạn (Quang "Q", Hồng :H", Quang nói là con nuôi ba mẹ Hồng) vay số tiền 800tr (gồm nhiều lần, và lần ngần nhất 08/2/2013) để đi cho vay lại kiếm lời.

Khi có ai mượn tiền Hồng thì H qua tôi lấy đưa người đó tôi hoàn toàn không biết mặt. Hồng nói những người đó H quen biết hết, có cơ sở làm ăn mà, khuyên tôi yên tâm, H là người chịu trách nhiệm đừng lo.

VD: Ngày dd/mm/yyyy Hồng qua kêu tôi đưa 50tr, 70tr ..... để cho ông A, B, C.... mượn với lãi suất 8%, 9% gì đó v.v.....hứa 2 tháng, 3 tháng ..... một phần tôi đi làm giao hết cho H và Q nên quan tâm mấy những người H và Q cho vay nữa. Tôi hoàn toàn tin là có việc vay mượn đó.

Trong một thời gian khoảng 01 tháng thì H và Q cứ liên tục nói đưa người này người kia tôi vẫn đưa vì lúc này H có gửi lãi cho tôi, có khi đủ khi không, do đó tôi vẫn tiếp tục giao tiền H, Q làm ăn tiếp. Lúc này số tiền lên tới khoảng 570 triệu.

Ngày 21/1/2013 H nói Thủy cần 50tr (tôi ấn định ngày trả 22/2/2013) lấy tiền ngày 10.000/1tr/1ngay tiền lãi chia 7/3, tôi có kêu H bắt Thủy viết tay biên nhận tiền 50tr, H nói Thủy viết xong rồi còn số CMND nữa xong gửi luôn, vài ngày sau tôi có nhắc lại việc biên nhận đó H nói Thủy nó cười làm ăn không tin nhau sao? nên tôi inh ninh làm ăn đàng hoàng tôi k hỏi nữa. Đến hạn tôi nhắc số tiền đó với H thì H nói Thủy chưa có, vậy hỏi lãi đâu? H nói nó chưa trả nên không có, gáng để Thủy gom lại trả mình từ từ không sao đâu yên tâm đi, tôi cũng để từ từ vì tôi nghĩ làm ăn có lúc kẹt tiền mình phải vu vi.

Ngày 04/02/2013 H điện thoại tôi nói thằng anh Quang đang bị giang hồ siết nợ ở quán Chị Trang cần gấp 15tr để không giang hồ giết nó, kêu tôi gáng giúp nó mai trả lại tôi, giấy tờ H đang giữ nên tôi tin đưa 15tr để cứu ông đó, mai tôi nhắc thì H nói nó đang làn nhà cho bà nào bà đó chưa trả nên chưa có, H còn nói đã gặp c của thằng bị siết nợ rồi, bã hứa cho nó mượn 5tr trả bớt nhưng đến nay mất luôn.

Ngày 02/02/2013 Hồng có gặp tôi trao đổi mượn thêm 50tr để sang quán ăn trên đường Nguyễn Khuyến tên Cô Trang của anh nào đó 35tr còn dư ra làm việc khác nhưng tôi không đồng ý cho, bằng thủ đoạn H nhờ một chị tên Trang không quen biết với tôi (chị ruột thứ 3 của Quang) mượn tôi với sự giới thiệu của H, Trang nói quán ăn Trang sang rồi do mượn vay tiền người ta đến hạn trả mà k có tiền nên mượn tôi, trước khi gặp Trang thi H có nói với tôi chị Trang có nhà trọ, con 01 đứa đi làm BiG C, 01 đứa bán đồ chơi trẻ em đường Nguyễn Trãi, bản thân chị Trang là giáo viên trường Lê Quý Đôn (Đại lộ Hòa Bình) và gia đình theo đạo tôi tin gia đình có văn hóa, đạo đức nên tôi đồng ý cho mượn 50tr thời hạn 40 ngày đến 10/3/2013 hoàn (tôi đưa C. Trang trước 08tr ngày 02/2/2013 hẹn 04/2/2013 giao thêm 42tr) đến ngày 048/2/2013 tôi đt cho Trang thì Trang kêu đang bận cứ gửi cho H hoặc Q, lúc đó tôi đt cho H, H nói kêu Q qua lấy. Đến hạn 40 ngày 10/03/2013 tôi đt cho Trang thì Trang nói H dựng lên chuyện sang quán để nhờ Trang mượm dùm, Trang không trách nhiệm số tiền đó, khi nào H trả lại Trang sẽ hoàn lại tôi. Hiện tại quán ăn Cô trang đã thành Cô Sương, quán ăn đó đã sang lại từ lúc nào tôi không rõ, ha lý do nào khác tôi k rõ tại sao của H mà giờ thành của người khác từ đó tôi mới phát hiện ra nhiều điều gian dối, không thông tin nào đúng sự thật H, Q nói hết lúc đó mới tá hỏa ra tôi đã bị lừa đảo từ nhiều tháng nay.

Đến khoảng 16h ngày 08/02/2013 thì Hồng có đt cho tôi nói nhà A. Quang đang bị Giang Hồ bao vây đòi nợ, nói gặp đâu là đâm chết Quang lúc đó, và Quang đã bỏ trốn lên TP. HCM rồi, trong lúc đó thì tôi có đt hỏi sự việc với Quang, Quang nói có thiếu người ta khoảng 50tr nếu không trả liền thì gặp đâu đâm anh ở đó, Q kêu gáng giúp anh, H cũng kêu gáng quần tiền giúp a. Quang trở về, tôi thấy ngày đó là 28 tết rồi, trốn nợ đi như vậy thì tội quá, tôi mới đi vay dùm 50tr (lần 15tr, lần 35tr) để đưa H trả nợ cho Quang, cho Quang về sum vầy cùng gia đình và khỏi bị giang hồ truy tìm đâm nữa.

Cũng trong thời gian trên tôi có nhờ Hồng chơi dùm 05 phần hụi 10ngày/500.000đ đóng được 13 lần thì H đã hốt hụi của tôi luôn, tôi mất trắng hết

Sự việc đỗ vỡ từ ngày 10/3/2013 tình cờ buổi trưa tôi đi ngang quán ăn Cô Trang (do H nhờ Trang sang lại) lúc trước phát hiện cái quán ăn đó bây giờ chủ khác vô bán, tôi đt hỏi liền thì H không bắt máy, tôi đt hỏi Quang thì Q nói cũng không biết, lúc đó tôi rất sợ và rung vì mình thật sự bị lừa đảo rồi. Tôi đt, nhắn tin cho H mãi mà không được, lúc được thì H nới đang ở Quê, tôi kêu H phải gặp 03 mặt (Trang, H, tôi hỏi rõ cái quán, hẹn gặp nhưng H cố lẫn tránh) đến giờ tôi cũng không biết H lẫn trốn nơi đã nơi đâu.

Khi tôi đi hỏi thăm nơi ở thì Hồng đã không còn ở địa chỉ cũ nữa, Quang biết nhà và nơi lẫn trốn của Hồng mà Quang không hợp tác chỉ tôi, tôi dt cho Hồng rất nhiều lần H không bắt máy nt không trả lời, tôi đã nhiều lần yêu cầu Hồng về gặp tôi bàn cách tháo gỡ H không hợp tác.

Qua điều tra thì số tiền 797 triệu tôi đưa Hồng và Quang không có đưa ai vay mượn hết, cố tình dựng chuyện nói đưa ngừời này người kia thật sự không có đưa ai, hiện tại H và Q còn đang nợ người khác nữa.

Số tiền thực H, Q nợ tôi 797tr nhưng trên biên nhận của H, Q ký chung thì có 605tr và một giấy H ký 355tr. Vậy biên nhận ký chung 605tr có đủ căn cứ là có tổ chức không?

Vậy xin hỏi Luật sư việc dựng chuện cho người này người kia mượn để chiếm đoạt tài sản của tôi có thể truy cứu trách nhiệm hình sự không? theo điều 139, 140 BLHS không?

Hành vi của nhóm người này là có tổ chức, dựng chuyện, hiện tại họ còn thiếu nợ chổ khác rẩt nhiều,

Vậy hành vi của họ có thể xem là có tổ chức không? vì đặt chuyện lấy tiền người khác, họ còn thách tôi đi thưa, họ nói chỉ là dân sự không sao, H thì nói nếu thưa thì hứa trả từ từ là xong

Tôi thấy việc làm dựa trên sự tin tưởng của tôi mà chiếm đoạt! họ đã lấy rất nhiều tiền của người khác.

Tôi chân thành Cảm ơn luật sư.

Người gửi: Kim Hoàng Bùi

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.0159

Trả lời:

Đứng ở góc độ Luật dân sự, giữa bạn và 2 người (tên Q và H) đã xác lập hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, theo điều 410 Bộ Luật dân sự 2005, nhận thấy hợp đồng dân sự đó bị vô hiệu toàn phần bởi hai lý do sau: Thứ nhất: nội dung hợp đồng trái pháp luật (mức lãi suất cho vay trong họp đồng lớn hơn nhiều lần mức lãi suất tối đa mà pháp luật quy định là không quá 150%); thứ hai, hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối. Do đó, theo quy định của luật dân sự, hai bên trao trả lại cho nhau những gì đã nhận.

Tuy nhiên, hợp đồng vay đó chỉ là hình thức. Bản chất thực sự là thông qua những hợp đồng này Q và H chiếm đoạt tài sản của bạn. Phân tích nhận thấy, hành vi của Q và H cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009). Cụ thể:

+ Về dấu hiệu pháp lý của tội này là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, hành vi này có thể gồm hai hành vi khác nhau là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt, giữa hai hành vi này có quan hệ mật thiết với nhau, hành vi lừa dối là điều kiện còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và kết quả của hành vi lừa dối.

+ Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật. Người phạm tội biết đó là giả nhưng vẫn đưa ra và mong muốn người khác tin đó là sự thật, hành vi lừa dối được thực hiện là nhằm mục đích chiếm đoạt, hành vi lừa dối mà nhằm mục đích khác thì không phải phạm vào tội này.

+ Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ coi là hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt đã xảy ra.

+ Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.

Với giá trị tài sản chiếm đoạt được từ bạn (797 triệu đồng), hành vi này bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 4 Điều 139 BLHS: “4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.”

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Cách khởi kiện cá nhân lừa đảo qua mạng ?

Hành vi lừa đảo qua mạng đang ngày một tăng, Luật Minh Khuê tư vấn cách khởi kiện cũng như các vấn đề pháp lý xung quan hoạt động kể trên:

Luật sư tư vấn:

Luật hình sự 1999, luật sửa đổi bổ dung một số điều của Bộ luật hình sự số 37/2009 quy định với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông thường, và tội sử dụng mạng internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau:

1. Theo luật hình sự 2009 khoản 29, Điều 1 sửa đổi bổ sung điều 226: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

- Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện một trong những hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm

+ Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;

+ Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;

+ Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

+ Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

- Bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm nếu thuộc trường hợp sau:

+ Có tổ chức;

+ Phạm tội nhiều lần;

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

+ Gây hậu quả nghiêm trọng;

+ Tái phạm nguy hiểm.

- Bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm nếu thuộc trường hợp sau:

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

+ Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

+ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

+ Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

- . Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Như vậy, để xác định yếu tố cấu thành với tội này, thì người phạm tội phải có đủ 2 hành vi :

- Sử dụng sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số

- Thực hiện các thủ đoạn nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật.

Nếu người phạm tội không sử dụng mạng máy tính, viễn thông, internet hay thiết bị số mà có hành vi chiếm đoạt tài sản trái pháp luật thì sẽ áp dụng theo điều 139, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 140 như sau:

2. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Điều 139 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Điều kiện với tội lừa đảo này là người phạm tội ngay từ đầu đã có ý định chiếm đoạt số tiền và có hành vi gian dối xảy ra trước hành vi chiếm đoạt. Nếu, việc chiếm đoạt tài sản thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê hoặc các hợp đồng thì áp dụng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

3. Tố giác tội phạm

- Cá nhân, tổ chức bị chiếm đoạt tài sản có thể thực hiện tố giác hoặc báo tin về tôi phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức.

Hình thức tố giác : bằng văn bản hoặc bằng miệng, nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

- Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Sau khi có tố giác hoặc báo tin về tội phạm, thì thực hiện khởi tố vụ án hình sự theo điều 100 Luật tố tụng dân sự 2003.

"Điều 100. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1. Tố giác của công dân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;

3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5. Người phạm tội tự thú"

4. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự với tội lừa đảo

- Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

- Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

- Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày bị chiếm đoạt tài sản.

Theo đó,

- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là đến ba năm tù;

- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là đến bảy năm tù; - - Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

5. Thời hạn điều tra

- Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng,

- Không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

Với tội có tình tiết phức tạp thì có thể xin gia hạn điều tra.Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng;

- Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng;

- Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng;

- Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về tội lừa đảo. Các bạn có thể dựa vào nội dung trên để trả lời câu hỏi của mình. Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như thế nào ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê ! Tôi xin công ty tư vấn giúp tôi về việc lừa đảo và chiếm đoạt tài sản. Tôi có một người bạn, anh ấy có gửi cho tôi một gói hàng thông qua công ty vận chuyển !
Khi tôi được thông báo gói hàng đã về tới, bên công ty vận chuyển yêu cầu tôi đóng 1200usd là 26 triệu 8 trăm ngàn việt nam cho phí hạ cánh vào một tài khoản tên DDT ,tại ngân hàng acb, sau đó họ lại yêu cầu đóng 4000usd tức là 89 triệu 2 trăm ngàn việt nam để lấy gói hàng, rồi sau đó họ lại yêu cầu tôi đóng thêm 7500usd tức 168 triệu việt nam, họ nói đây là phí cuôí cùng nhưng sau khi hoàn thành số tiền trên, tôi không liên lạc được với người này để nhận gói hàng, sau đó tôi nhận được điện thoại của người tự xưng là bên hải quan, cô này yêu cầu tôi đóng phí phạt là 17000 usd tức 380 triệu , chuyển vào tài khoản cô này gửi, tôi không đóng nữa vì nghi ngờ có dấu hiệu lừa đảo. Cho tôi hỏi có truy cứu trách nhiệm hình sự được không. Tôi có giữ toàn bộ các biên lai đóng tiền ?
Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự gọi:1900.0159

Trả lời:

Vì bạn cung cấp thông tin chưa đủ về người bạn của bạn, người này có thực hiện việc chuyển hàng thực sự cho bạn hay không để xác minh được bên vận chuyển vi phạm pháp luật hay bạn của bạn vi phạm, có hành vi gian dối. Nếu một trong hai người này hoặc cả hai có thủ đoạn gian dối, lừa đảo thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:

- Có hành vi gian dối: tức là một người đưa ra thông tin không chính xác, giả mạo nhưng mong muốn người khác tin đó là sự thật. Bên vận chuyển đã yêu cầu bạn đóng 1200usd là 26 triệu 8 trăm ngàn việt nam cho phí hạ cánh vào một tài khoản tên DDT ,tại ngân hàng acb, sau đó họ lại yêu cầu đóng 4000usd tức là 89 triệu 2 trăm ngàn việt nam để lấy gói hàng, rồi sau đó họ lại yêu cầu tôi đóng thêm 7500usd tức 168 triệu việt nam nhưng thực tế lại không có sự chuyển giao tài sản cho bạn, mà khi bạn chuyển giao tiền thì bên bán hàng đã không còn thông tin liên lạc. Như vậy, bên vận chuyển đã đưa số tài khoản cho bạn và có lấy những lý do để bạn phải đưa tiền theo nhiều lần, nhưng trên thực tế không phải như vậy, bên vận chuyển cũng không chuyển giao tài sản cho bạn và đây là hành vi gian dối.

Từ những hành vi này và giá trị tài sản chiếm đoạt có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Như vậy, hành vi của người vận chuyển được quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009. Do đó, hành vi phạm tội này hoàn toàn có thể bị khởi tố. Trong trường hợp của bạn, bạn có những thông tin cá nhân trên tài khoản tại ngân hàng mà bạn đã chuyển tiền nên bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người kia đến cơ quan công an cấp huyện. Và trong đơn tố cáo bạn phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ cho thấy trên thực tế đã xảy ra hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trong đó bạn là người bị hại, đồng thời bạn phải cung cấp thông tin về người phạm tội mà bạn đang có, để cơ quan công an có cơ sở để khởi tố vụ án và tìm kiếm người phạm tội.

Còn đối với người bạn của bạn, nếu chứng minh được người này đồng phạm với bên vận chuyển thì bạn của bạn cũng sẽ bị khởi tố tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?