Người gửi : Nguyễn Thị Tuyết A

Luật sư trả lời:Cảm ơn chị đã tin tưởng gửi câu hỏi đến Luật sư tư vấn pháp lý hình sự của công ty Luật Minh Khuê, sau thời gian nghiên cứu nội dung câu hỏi của chị cùng với các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan Luật sư xin trả lời chị như sau:

1. Căn cứ pháp lý

Bộ luật hình sự năm 2015

Bộ luật dân sự năm 2015

2. Nội dung tư vấn

Thứ nhất: Trường hợp chị vay tiền doctor dong là một hình thức vay tín chấp và thanh toán hàng tháng theo dạng trả góp, nay chị không có khả năng trả nợ bằng tiền mặt hàng tháng thì trước hết chị phải chịu tiền phạt chậm thanh toán hàng tháng. Mức phạt chậm trả phụ thuộc vào số tiền nợ còn lại cùng với chính sách của từng đơn vị cho vay nên về vấn đề này trong thỏa thuận của chị với bên cho vay. Cùng với đó là tiền lãi thỏa mãn điều kiện cho vay trong giao dịch dân sự, nếu mức lãi suất cao gấp 05 lần so với mức lãi của luật dân sự quy định thì người cho vay có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 201 Bộ luật hình sự về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự.

"Điều 201. Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2.Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Thứ hai: Khi chị không có khả năng trả nợ thì phía cho vay có thể họ sẽ không đòi tiền chậm trả ngay mà có thể bên cho vay sẽ để một thời gian để tăng tiền phạt cũng như tiền lãi suất lên một mức nào đấy hoặc sau một thời gian cố định nào đấy thì họ mới tiến hành thu hồi. Khi chị không thanh toán thì có thể bên cho vay có thể khởi kiện ra Tòa để yêu cầu trả nợ, đây là nghĩa vụ thanh toán nợ theo quy định dân sự nên chị chỉ phải thực hiện thanh toán số nợ còn lại. Căn cứ theo Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 166. Quyền đòi lại tài sản

1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó."

Nghĩa vụ thanh toán nợ thì chị không thể chối bỏ và bắt buộc phải thanh toán nên việc chị để nợ càng kéo dài thời gian thì chị càng phải chịu trách nhiệm nặng hơn về tiền lãi cũng như tiền phạt chậm trả.

Thứ ba: Một trường hợp cuối cùng là chị không trả nợ, chị chối bỏ nghĩa vụ nợ hoặc không thừa nhận nghĩa vụ thanh toán số nợ đấy thì chị có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015. Bởi vì chị đang vay tiền theo dạng tín chấp, tức là không có tài sản thế chấp nên buộc chị phải có nghĩa vụ trả nợ bằng các tài sản đang có chứ không chỉ riêng là tiền mặt. Và việc chị có bị khởi kiện ra Tòa hình sự hay không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của bên cho vay cũng như thái độ làm việc của chị với họ như thế nào.  Nếu chị bị khởi kiện ra Tòa hình sự thì rất có thể mình sẽ phải chịu mức án quy định trong Luật hình sự như sau:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê