1. Vay tiền không trả có phạm tội không ?

Thưa Luật sư, vào năm 2014 tôi có cho một người trong làng vay 100 triệu đồng với thời hạn 6 tháng. Tuy nhiên khi đến hạn trả tiền người này không chịu thanh toán cho tôi mặc dù họ có nhà, có xe có nhà lớn, nhưng họ cố tình không trả tiền cho tôi, Tôi biết phải làm sao?! cho tôi hỏi hành vi này của họ có phải là rơi vào tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của tôi không? Mong nhận được sự tư vấn.

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp nhận thấy người vay tiền hiện nay đang cố tình trốn tránh nợ, cụ thể: không chịu thanh toán và thách thức gia đình bạn là không thanh toán. Về vấn đề này cho thấy người đó cố ý muốn chiếm đoạt số tiền trên của bạn. Tuy nhiên để xác định cụ thể họ có phải cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không thì còn phải tính đến các yếu tố cấu thành của tội này.

Các yếu tố cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 175 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:Về hành vi. Có một trong các hành vi sau đây:

Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái phép tài sản của người khác thành tài sản của mình (xem giải thích tương tự ở Tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản) sau khi vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.
Chỉ coi là có hành vi chiếm đoạt khi:Được coi là có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả khi bản thân người phạm tội có tài sản (như có nhà, đất…) hoặc có nguồn tài sản (như có phần tài sản hưởng thừa kế chưa chia…) nhưng đã tìm mọi cách thoái thác việc trả nợ hoặc tuyên bố không trả nợ hoặc tuyên bố không trả nợ hoặc né tránh việc trả nợ (như khi có người đến đòi nợ thì tránh mặt…).
Tuy nhiên nhữngh trường hợp có hứa hẹn trả nợ và họ chưa có điều kiện trả nợ (như có nhà, đất nhưng chưa bán được…) thì không được coi là cố tình không trả nợ.
Dùng thủ đoạn gian dối để không phải trả lại tài sản. Thủ đoạn này tương tự như thủ đoạn nêu ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng là nhằm để chiếm đoạt tài sản không qua các giao dịch hợp pháp đã được thực hiện trước đó mà không có ý thức chiếm đoạt trước khi thực hiện các giao dịch đó.Có hành vi bỏ trốn. Được hiểu là hành vi trốn tránh để không thực hiện nghĩa vụ trả tiền sau khi đã giao dịch với người khác bằng hình thức vay, mượn, thuê tài sản (theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển ngôn ngữ xuất bản năm 1992 – trang 1023, thì “trốn tránh” là trốn để khỏi phải gặp, phải làm hoặc phải chịu điều không hay, không thích nào đó).
Để xác định một người có bỏ trốn hay không cần xác định các dấu hiệu sau:Việc họ rời bỏ nơi cư trú là lén nút hay công khai (có khai báo tạm trú, tạm vắng hay không).Lý do của việc rời bỏ nơi cư trú.Mục đích của việc rời bỏ nơi cư trú.Việc rời bỏ nơi cư trú là tạm thời hay không xác định thời hạn.Có hành vi sử dụng tài sản mà mình đã vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng vào các mục đích bất hợp pháp (như dùng tiền vay để đánh số đề, đánh bạc, buôn lậu,…) dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho bên cho vay, cho mượn hoặc giao tài sản.Đặc điểm của hành vi chiếm đoạt tài sản trên là sau khi nhận được tài sản thông qua các giao dịch hợp pháp như vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác (như do người khác gửi giữ…) bằng hình thức hợp đồng dân sự hoặc hợp đồng kinh tế.
Dấu hiệu khác. Có một trong các dấu hiệu sau đây:Giá trị của tài sản bị chiếm đoạt phải từ bốn triệu đồng trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu dưới bốn triệu đồng thì phải thuộc trường hợp đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt (như công nhiên chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản,…) hoặc đã bị kết án về tội này hoặc các tội chiếm đoạt tài sản được quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174, 290 chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại.
Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Mặt khách quan: Người phạm tội thực hiện đến tội phạm này với lỗi cố ý.
Tuy nhiên cần phải lưu ý: mục đích chiếm đoạt tài sản chỉ phát sinh sau khi đã nhận được tài sản thông qua các giao dịch hợp pháp. Đây là điểm khác biệt cơ bản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Trong quá trình thực hiện tội phạm người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt.Trường hợp này, ngừoi phạm tội vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản.Tuy nhiên, có một số trường hợp lại cấu thành tội danh đọc lập khác, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng ấy.
Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
=> Bạn chưa nói rõ cụ thể vấn đề của ban thân nên như vậy , căn cứ vào các yếu tố cấu thành như trên ở đây bạn có thể đưa ra kết luận cho vấn đề của bạn thân mình.

>> Xem thêm:  Mức thuế thu nhập cá nhân khi nhận thừa kế ? Tư vấn tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ?

2. Vay không có khả năng trả?

cho tôi hỏi tội cho vay nặng lãi, ? tôi vay 100.000.000 lãi 5 ngàn/ triệu/ ngày có rơi vào tội cho vay nặng lãi không? tôi đã trả được 5 tháng rồi?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được quy định tại Điều 201 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:

Khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ.
Mặt khách quan: Hành vi khách quan: Hành vi của người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là hành vi cho người khác vay tiền với lãi suất cao gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự.Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”.
Theo đó, lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự là 20%/năm. Như vậy, lãi suất gấp 05 lần trở lên lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự là 100%/năm trở lên.
Thủ đoạn mà người phạm tội cho vay lãi nặng thường là lợi dụng những người gặp hoàn cảnh khó khăn đột xuất như bị thiên tai, bệnh tật hoặc những khó khăn khác cần gấp một số tiền lớn mà không có khả năng vay được chỗ nào khác để “ép” người vay phải chịu lãi suất cao.
Hậu quả: Hậu quả là điều kiện bắt buộc của tội phạm này. Hậu quả của tội cho vay nặng lãi là gây thiệt hại về tài sản cho người vay. Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người cho vay phải thu lợi bất chính từ việc cho vay nặng lãi từ 30.000.000 đồng trở lên mới phạm tội.
Ngoài ra, trong trường hợp người có hành vi cho vay lãi nặng thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng nhưng người đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về tội cho vay lãi nặng hoặc đã bị kết án về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.
Mối quan hệ nhân quả: Mối quan hệ nhân quả là điều kiện bắt buộc của mọi tội phạm, nguyên nhân dẫn đến hậu quả phải là hành vi khách quan của tội phạm. Thiệt hại về tài sản của người vay phải từ hành vi cho vay nặng lãi gây ra chứ không phải từ nguyên nhân nào khác.
Chủ thể của tội cho vay lãi nặng là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt, bất cứ ai nếu thoả mãn các điều kiện quy định của pháp luật dều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này. Tuy nhiên, tội phạm này là tội phạm ít nghiêm trọng, nên người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này
Mặt chủ quan: Phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.
Mục đích của người phạm tội là thu lợi bất chính từ việc cho vay nặng lãi, mục đích này luôn được đặt ra từ trước khi người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, tội phạm luôn nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là sai trái và mong muốn hậu quả xảy ra để đạt được mục đích của mình.
Về hình phạt
Mức hình phạt của tội này được chia thành hai khung, cụ thể như sau:
+ Khung một (khoản 1).
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan.
+ Khung hai (khoản 2).
Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
+ Hình phạt bổ sung (khoản 3).
Ngoài việc phải chịu một trong các hình phạt chính nêu trên, thì tùv từng trường hợp cụ thể. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất như thế nào ? Quyền định đoạt tài sản

3. Lãi suất cho vay ?

Thưa luật sư tôi có một thắc mắc như sau: Năm 2019 mẹ tôi có cho ông A vay một số tiền là 105.000.000đ với lãi suất là 5% trong vòng một tháng. nhưng đến giờ mẹ tôi chưa nhận được đồng nào, và ông A đâm đơn kiện mẹ tôi cho vay nặng lãi, hỏi mẹ tôi có rơi vào tội này hay không?

Người gửi: N.T.A

Tư vấn về việc khởi kiên đòi lại tài sản và quy định pháp luật về lãi suất cho vay ?

Luật sư tư vấn luật hình sự về mức lãi suất, gọi:1900.6162

Trả lời:

Như chúng tôi đã trình bày các yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như đã nói ở trên đây, bạn có thê rtham khảo các yếu tố cấu thành như trên để tham khảo.

Về vấn đề lãi suất, như bạn có đề cập thì mẹ bạn có cho vay 105.000.000 đồng và lãi suất là 5%/ tháng.

Mức lãi suất theo quy định của pháp luật là: 105.000.000 đồng x 1,67%/ tháng= 1.753.500 đồng/ tháng

Số tiền cho vay nặng lãi là : 105.000.000 đồng x8,33%/ tháng= 8.746.500 đồng

Số tiền thực tế mà mẹ bạn cho vay là 105.000.000 đồng x 5%/tháng= 5.250.000 đồng

=> Như vậy có nghĩa là mẹ bạn mới thuộc trường hợp cho vay vượt quá quy định của pháp luật nhưng chưa cấu thành tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành.

>> Xem thêm:  Trình tự thủ tục khởi kiện đòi lại tài sản thừa kế làm như thế nào ? Quyền quản lý tài sản thừa kế

4. Cho bạn để tên trên hợp đồng vay?

Ông A đã bị công an bắt về tội cho vay nặng lãi vì tôi đã báo công an, tôi có vay tiền của ông ấy do có một anh B giới thiệu, vậy cho tôi hỏi anh B có rơi vào tội gì không?
- Huỳnh Bích

Luật sư trả lời:

Như bạn có trình bày ở trên thì ông A đã bị công an bắt vì tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và anh B là người đã giới thiệu ông A cho bạn.

Ở đây vấn đề chúng ta đề cập đến ở đây là anh B có phải là động phạm của ông A hay không thì phải xét đến tính chất phạm tội có tổ chức ở đây, hay nói cách khác là phải có sự phối hợp chạt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Theo Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì

Điều 17. Đồng phạm
1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.
Như vậy, có nghĩa là nếu anh B biết được ông A cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nhưng vẫn giới thiệu bạn cho ông A, đồng thời có sự liên kết chặt chẽ giữa ông A và anh B thì anh B có thể thuộc trường hợp đồng phạm.

>> Xem thêm:  Thủ tục phân chia di sản thừa kế như thế nào ? Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bao lâu ?

5. Tư vấn hành vi cho vay lãi suất cao ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi như sau: Tôi vay với số tiền là 40 triệu, tôi phải trả một tháng 3 triệu. Tôi đã trả được 12 tháng nhưng hiện nay tôi không còn khả năng trả nữa.

Vậy tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không, bên cho vay có được xem là cho vay nặng lãi hay không?

Xin cảm ơn Luật sư!

Hỏi về việc cho bạn để tên trên hợp đồng vay thì có chịu trách nhiệm niên đới không ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về lãi suất, gọi 1900.6162

Trả lời:

Các yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như tôi đã phân tích ở bên trên bạn có thể tham khảo.

Về lãi suất của bạn thì xác định như sau:

Số lãi suất quy định của pháp luật là: 40.000.000 đồng x 1,67%/ tháng= 668.000 đồng/ tháng

Lãi suất vay lãi nặng là= 40.000.000 đồng x 8,33%= 3.332.000 đồng

Như vậy, có nghĩa là, lãi suất thực tế của bạn như có đề cập ở trên là 1 tháng trả 3 triệu đồng , do đó trong trường hợp này chưa thuộc cho vay lãn nặng trong giao dịch dân sự nhưng số lãi suất đã vượt quá so với lãi suất quy định.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Khái niệm, nội dung, mục đích và hậu quả pháp lý của cầm cố tài sản ? Mẫu hợp đồng cầm cố