Mục lục bài viết
- 1. Đối tượng chứng minh trong điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi
- 2. Việc áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị can là người dưới 18 tuổi trong GĐĐTVAHS
- 2.1 Chỉ áp dụng BPNC, biện pháp cưỡng chế đối với bị can là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết
- 2.2 Áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
- 2.3 Hủy bỏ, thay thế biện pháp ngăn chặn
1. Đối tượng chứng minh trong điều tra vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi
Điều 85 BLTTHS 2015 quy định những vấn đề phải chứng minh khi điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự như sau:
- Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội.
- Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội.
- Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo.
- Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
- Nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
- Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
Mỗi vụ án có tính chất của vụ án đó, nên nội dung chứng minh ở từng vụ án khác nhau. Do đó, trong mỗi vụ án trên cơ sở những nội dung quy định tại Điều 85 BLTTHS 2015, cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định giới hạn, phạm vi chứng minh phù hợp với tình hình cụ thể nhằm làm rõ bản chất của vụ án.
Đối với người bị buộc tội là người chưa thành niên, thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải xác định rõ rõ thêm những nội dung sau:
- Tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên.
- Ðiều kiện sinh sống và giáo dục.
- Có hay không có người thành niên xúi giục.
- Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội.
2. Việc áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị can là người dưới 18 tuổi trong GĐĐTVAHS
Khi có căn cứ chứng tỏ bị can sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, bị can tiếp tục phạm hoặc để bảo đảm thi hành án hoặc để kịp thời ngăn chặn tội phạm tội, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế được quy định tại Chương VII của BLTTHS 2015 (Khoản 1 Điều 109 BLTTHS 2015).
Tuy nhiên, để phù hợp với đặc điểm của bị can là người dưới 18 tuổi cũng như đảm bảo chính sách hình sự đối với các đối tượng này, Điều 419 BLTTHS năm 2015 quy định chi tiết, cụ thể hơn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn đối với bị can là người dưới 18 tuổi. Vì vậy, khi tiến hành áp dụng các biện pháp này trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự mà bị can là người dưới 18 tuổi, ngoài các quy định chung thì cần tuân theo các quy định cụ thể sau:
2.1 Chỉ áp dụng BPNC, biện pháp cưỡng chế đối với bị can là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết
Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với bị can là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết (Khoản 1 Điều 419 BLTTHS 2015): Theo quy định này, biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế chỉ áp dụng đối với bị can là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết. Nếu không thật cần thiết thì mặc dù có đủ các căn cứ áp dụng được quy định trong BLTTHS năm 2015 cũng không áp dụng các biện pháp này đối với bị can là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Quy định này buộc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự phải cân nhắc kỹ lưỡng việc áp dụng các biện pháp này nhằm bảo đảm quyền, lợi ích của bị can là người dưới 18 tuổi.
Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 4 Điều 12, Thông tư Liên tịch số 06/2018 hướng dẫn thực hiện thì việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải đối với bị can là người dưới 18 tuổi được quy định cụ thể như sau:
“1. Trước khi quyết định áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam người dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, cân nhắc áp dụng biện pháp giám sát, cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc tạm hoản xuất cảnh quy định tại bảo Điều 123 và 124 BLTTHS 2015.
Trường hợp sau khi quyết định tạm giam bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi mà có đủ căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để đảm bảo thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lãnh hoặc đặt tiền để bảo đảm.
Để bảo đảm sự có mặt của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải đối với người dưới 18 tuổi trong các trường hợp sau đây:
Bị can, bị cáo đã có giấy triệu tập đến lần thứ hai nhưng cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan (Quy định tại Khoản 3 Điều 60 và Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự);
Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị can, bị cáo đang bị tạm giam từ nơi bị giam, giữ đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử vụ án, (Quy định tại Điều 4 và Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự)”.
2.2 Áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự (Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 419 BLTTHS 2015):
+ Chỉ áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả. Như vậy, trước khi áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can là người dưới 18 tuổi thì phải xác định việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác có hiệu quả hay không. Khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp này không hiệu quả thì mới xem xét áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Theo quy định tại khoản 2, Điều 12 Thông tư Liên tịch 06/2018 hướng dẫn thực hiện thì các căn cứ xác định việc áp dụng các biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi không hiệu quả theo quy định tại khoản 1 Điều 419 gồm:
“... người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi đã được áp dụng biện pháp giám sát, biện pháp ngăn chặn khác quy định tại khoản 1 điều này nhưng bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã, có dấu hiệu bỏ trốn, tiếp tục phạm tội, có dấu hiệu tiếp tục phạm tội hoặc có các hành vi khác quy định tại khoản 2 Điều 418 của Bộ luật này...”.
+ Theo quy định tại Khoản 1 Điều 419 BLTTHS thì thời hạn tạm giam đối với bị can là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên quy định tại Bộ luật này.
Thời hạn tạm giam tính theo tháng là cách tính phổ biến trong tố tụng hình sự. Đây là thời hạn các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết để giải quyết vụ án trong giai đoạn tố tụng khác nhau như thời hạn để tiến hành điều tra vụ án, thời hạn truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử…nếu tính thời hạn theo tháng thì một tháng được tính là 30 ngày, thời hạn hết vào ngày trùng của tháng sau, nếu tháng đó không có ngày trùng thời hạn hết vào ngày cuối cùng của tháng đó. Như vậy thời hạn tạm giam người dưới 18 tuổi trong giai đoạn điều tra được thực hiện theo Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 419 không quá 40 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng; không quá hai tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá hai tháng 20 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Trường hợp cần gia hạn tạm giam, thì thời gian gia hạn tạm giam đối với bị can là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba thời hạn gia hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên, quy định tại khoản 2 Điều 173 BLTTHS 2015.
+ Theo Khoản 1 Điều 419 BLTTHS, không còn căn cứ để tạm giam thì cơ quan, người có thẩm quyền phải kịp thời hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.
+ Áp dụng biện pháp tạm giam: BLTTHS chia ra 3 đối tượng dưới 18 tuổi có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam là:
Thứ nhất, Khoản 2 Điều 419 BLTTHS quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giam nếu đủ các điều kiện sau:
Phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Có một trong các căn cứ quy định tại các Điểm a, b, c, d và đ Khoản 2 Điều 119 của BLTTHS:Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này”.
Thứ hai, Khoản 3 Điều 419 BLTTHS quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu có căn cứ quy định tại các Điểm a, b, c, d và đ Khoản 2 Điều 119 như đã nêu trên.
Thứ ba, Khoản 4 Điều 419 quy định bị can từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị điều tra về tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm thì có thể bị tạm giam nếu họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
+ Theo Khoản 5 Điều 419 BLTTHS quy định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi bắt tạm giam, người ra quyết định bắt tạm giam người dưới 18 tuổi phải thông báo cho người đại diện của họ biết.
2.3 Hủy bỏ, thay thế biện pháp ngăn chặn
Khoản 1 Điều 419 quy định: khi không còn căn cứ để tạm giữ, tạm giam thì cơ quan, người có thẩm quyền phải kịp thời hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 12 Thông tư Liên tịch 06/2018/TTLT- VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện thì các căn cứ xác định việc áp dụng các biện pháp thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi gồm:
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường xuyên theo dõi, rà soát, kiểm tra việc tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18 tuổi bị tạm giữ, tạm giam; nếu phát hiện không còn căn cứ hoặc không cần thiết tạm giữ, tạm giam thì kịp thời ra quyết định hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác”.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê