>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

 

“Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trong trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó và người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty.

Sau thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ”.

Quy định này cần được hiểu là các cổ đông đã có ý tưởng sáng lập ra công ty phải có trách nhiệm gắn bó với công ty, không được tuỳ ý từ bỏ công ty. Việc một cổ đông sáng lập rời khỏi công ty phải được ĐHĐCĐ chấp thuận, tức là phải được sự đồng ý của các cổ đông khác. Quy định này giống như quy định của ngành hàng không về việc tổ lái máy bay chở khách không được mang dù để phi công có trách nhiệm cứu sống hành khách đến cùng.

Tuy nhiên, việc hạn chế chuyển nhượng trên chưa được chặt chẽ. Tình huống sau đây sẽ làm rõ sự chưa chặt chẽ này.

Tình huống: Tại điều khoản quy định về nghĩa vụ của cổ đông, Điều lệ của một công ty quy định như sau: Trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nếu cổ đông sáng lập chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập thì các cổ đông khác đương nhiên đồng ý.

Quy định trên của Điều lệ công ty là hợp pháp, vì: Đây là một thỏa thuận giữa các cổ đông và thỏa thuận này không trái bất cứ quy định nào của Luật Doanh nghiệp 2005. Do đó, những người đến mua cổ phần sau phải hết sức lưu ý đến nội dung này của Điều lệ công ty và cần nghiên cứu Điều lệ kỹ càng trước khi mua cổ phần.

Quy định trên của Điều lệ công ty nhằm mục đích “lách” quy định về hạn chế chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập tại Khoản 5 Điều 84 Luật Doanh nghiệp 2005. Quy định trên của Luật doanh nghiệp 2005 thể hiện rằng nếu cổ đông sáng lập muốn chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập thì phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Tuy nhiên, những cổ đông sáng lập không muốn sự ràng buộc này của Luật đã quy định vào Điều lệ công ty rằng: Trường hợp cổ đông sáng lập muốn chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập thì các cổ đông còn lại đương nhiên đồng ý. Thỏa thuận này đã vô hiệu hóa Khoản 5 Điều 84 Luật Doanh nghiệp 2005 và một lần nữa những người mua cổ phần sau cần phải nghiên cứu kỹ Điều lệ của công ty.

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê  
----------------------------------- 

THAM KHẢO VÀ DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;
2. Dịch vụ tư vấn cơ cấu lại doanh nghiệp;
3. Tư vấn thành lập doanh nghiệp tại Hà Nội;
4. Tư vấn xây dựng quy chế hoạt động cho doanh nghiệp;
5. Luật sư tư vấn vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại;
6. Luật sư tư vấn và giải quyết tranh chấp nội bộ doanh nghiệp.

>> Xem thêm:  Chuyển nhượng cổ phần không thông qua giao dịch chứng khoán?

>> Xem thêm:  Mẫu Giấy đề nghị đăng ký công ty TNHH hai thành viên trở lên (Phụ lục I-3)