1. Vợ giấu chồng rút tiền tiết kiệm chung khi ly hôn xử lý thế nào ?

Chào luật sư, Xin hỏi quý luật sư, tôi là sỹ quan trong quân đội được hơn 6 năm. Thu nhập một tháng khoảng 7,5 triệu. Tôi kết hôn với vợ đã được hơn 3 năm. Trước khi kết hôn tôi có tích cóp được số tiền là 80 triệu đồng. Sau khi kết hôn tôi bàn giao toàn bộ số tiền tích cóp được cho vợ tôi giữ, từ ngày kết hôn với nhau đến nay vợ tôi vẫn chưa tìm được việc làm ổn định. Qua quá trình làm ăn đến nay, chúng tôi đã tích cóp được khoảng hai trăm triệu. Số tiền ấy do vợ tôi đứng tên gửi tiết kiệm, nhưng gần đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, vì vậy chúng tôi thuận tình ly hôn. Nhưng cách đây mấy ngày vợ tôi che giấu tôi rút toàn bộ tiền tiết kiệm ở ngân hàng mà tôi không biết.
Luật sư cho tôi hỏi nếu ra toà giải quyết ly hôn thì phần tài sản đó được giải quyết như thế nào ạ ?
Tôi xin chân thành cảm ơn !

Vợ giấu chồng rút tiền tiết kiệm chung thì phần tài sản này sẽ được phân chia thế nào khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân chia tài sản, gọi:1900.0159

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi nội dung câu hỏi cần được tư vấn đến Công ty luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Điều 33 luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về Tài sản chung của vợ chồng, như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung…”

Khoản 1 Điều 40 luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, trừ trường hợp đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc vợ,chồng được tặng cho riêng, thừa kế riêng, thì tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân bao gồm cả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đều được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Thời điểm bắt đầu của thời kỳ hôn nhân là thời điểm đăng ký kết hôn.

Thứ nhất, Theo thông tin bạn cung cấp, thì khoản tiền 200 triệu là khoản tiền mà cả 2 vợ chồng bạn tích góp được, kể cả khoản tiền 80 triệu trước khi kết hôn mà bạn tự nguyện đóng góp vào khối tài sản chung. Nên đây là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy thuộc sở hữu chung của cả 2 vợ chồng. Về số tiền lãi gửi tiết kiệm mà vợ chồng bạn nhận được hàng tháng cũng được xác định là tài sản chung của vợ chồng.


Thứ hai, mặc dù người vợ là người đứng tên trong sổ tiết kiệm, nhưng phần tài sản này là tài sản chung của vợ chồng. Bởi vậy, người vợ không có quyền với toàn bộ phần tài sản này. Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Theo đó, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác thì về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ được chia đôi.

Trường hợp vợ bạn tự ý rút toàn bộ tiền tiết kiệm ở ngân hàng mà không hỏi ý kiến bạn là sai. Bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết để yêu cầu vợ của bạn gửi lại 1 nửa số tài sản tiết kiệm vợ đã rút cho bạn hoặc yêu cầu phần nhiều hơn nếu bạn chứng minh được công sức đóng góp của bạn vào khối tài sản chung này nhiều hơn vợ theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 59 luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.0159 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Khi ly hôn người vợ được hưởng quyền lợi gì không ? Ly hôn phải đóng những khoản phí gì ?

2. Ai có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn ?

Thưa luật sư, tôi có đứa em gái đã ly dị chồng được 5 năm và có đứa con gái 6 tuổi. Trước kia ly hôn đó còn còn nhỏ nên tòa án giao cho em gái tôi được nuôi dưỡng, giờ thì đứa bé được 6 tuổi thì chồng của em gái tôi nộp đơn ra tòa đòi giành lại quyền nuôi con trong khi đó người chồng này đã có vợ và con riêng mà luôn làm phiền em gái tôi về việc thay đổi quyền nuôi con.
Trong khi đó em gái tôi vẫn đủ điều kiện nuôi con và không hề cấm cản hay gây khó dễ gì về việc thăm nom con của chồng cũ. Kính mong luật sư cho tôi được xin ý kiến trong trước hợp này, gia đình tôi phải làm sao để khỏi bị làm phiền?
Xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.
4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.
5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ."

Theo quy định pháp luật trên thì trong trường hợp này chồng của em gái bạn có quyền nộp đơn lên Tòa án để yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Lúc này, Tòa án sẽ căn cứ vào điều kiện của em gái bạn, nếu em gái bạn không đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con thì Tòa án sẽ giao con cho chồng của em gái bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Chưa ly hôn đã tổ chức đám cưới với người khác thì xử lý thế nào ? Quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

3. Có phải chuyển hộ khẩu sau khi ly hôn không ?

Chào Công ty Luật Minh Khuê. Xin luật sư tư vấn giúp tôi việc này: tôi đi làm ở Hà Nội đã mấy năm nay nhưng đợt tháng 6 vừa rồi có đợt thi công chức vì phải có hộ khẩu thì tôi mới được dự thi công chức nên tôi đăng ký kết hôn với một người có hộ khẩu Hà Nội. Trong thời gian đăng ký và chuyển khẩu về nhà chồng tôi dự tính sau khi thi xong chúng tôi sẽ tổ chức đám cưới nhưng trong thời gian đợi chờ đám cưới tôi nhận ra anh ta không có tình cảm với tôi nên tôi đã huỷ đám cưới với anh ta nhưng gia đình nhà anh ta thấy tôi huỷ đám cưới đã cho rằng tôi lừa dối để nhập khẩu về và thi biên chế và ra điều kiện nếu không tiếp tục cưới thì sẽ kiện tôi, tôi rất bế tắc và suy nghĩ rất nhiều cuối cùng tôi vẫn quyết định xin lỗi nhà anh ta và tiếp tục cưới vì tôi nghĩ nếu chỉ vì không lấy anh ta nữa thì tất cả bao nhiêu năm tôi cố gắng đều mất hết, nhưng khi tôi xin lỗi và quay lại thì nhà anh ta trả lời không cưới tôi nữa.
Vậy xin luật sư cho tôi hỏi nếu gia đình nhà anh ta có kiện tôi thì kiện về vấn đề gì ? Nếu kiện tôi có bị mất việc không ? Nếu tôi muốn ly hôn và chấp nhận từ bỏ tất cả thì nhà anh ta có quyền giữ hộ khẩu của tôi không ? Nếu gia đình họ giữ không tách khẩu cho tôi thì tôi phải làm như thế nào ?

Ly hôn và các vấn đề liên quan ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài: 1900.0159

Trả lời:

1. Sẽ kiện về vấn đề gì ?

- Theo quy định tại khoản 6, 11 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

6. Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.

11. Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.

Điều 8. Điều kiện kết hôn.

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình.

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

4. Danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trong quá trình giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Theo thông tin bạn cung cấp do sắp tới có đợt thi công chức mà phải có hộ khẩu ở Hà Nội thì mới được thi nên bạn mới đăng kí kết hôn với một người có hộ khẩu ở Hà Nội để nhập khẩu, hơn nữa bạn cũng nói rằng nếu không cưới anh ta thì bao công sức bao năm cố gắng cũng đều mất hết. Pháp luật quy định rõ hôn nhân phải xuất phát từ sự tự nguyện của nam, nữ; bắt nguồn từ tình cảm của 2 phía, mục đích kết hôn cuối cùng nhằm xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Ở đây, chúng tôi thấy, việc bạn kết hôn chỉ nhằm mục đích có hộ khẩu ở Hà Nội để thi công chức, chỉ thỏa mãn cho nhu cầu cũng như mục đích của chính ban chứ không nhằm mục đích xây dựng gia đình, do đó đây có thể xem là hành vi kết hôn giả tạo và pháp luật nghiêm cấm điều này. Như vậy, gia đình anh ta có thể kiện bạn về hành vi kết hôn giả tạo.

2. Bạn có mất việc không ?

- Điều 12 Luật hôn nhân gia đình quy định rõ như sau:

Điều 12. Hậu quả pháp lý của việc kết hôn trái pháp luật.

1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

3. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này.

Như vậy, việc khởi kiện và có quyết định của tòa án về việc kết hôn trái pháp luật thì cũng không ảnh hưởng tới công việc của bạn

3. Về vấn đề hộ khẩu của bạn

- Điều 27 Luật cư trú 2006 sửa đổi bổ sung 2013 quy định như sau:

Điều 27. Tách sổ hộ khẩu

1. Trường hợp có cùng một chỗ ở hợp pháp được tách sổ hộ khẩu bao gồm:

a) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu;

b) Người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26 của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

2. Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả giải quyết việc tách sổ hộ khẩu; trường hợp không giải quyết việc tách sổ hộ khẩu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trong trường hợp của bạn, bạn là vợ về ở với chồng ( bạn đã nhập vào hộ khẩu của người chồng ở Hà Nội ) do đó, để được tách khẩu bắt buộc phải có sự đồng ý cho tách khẩu của chủ hộ bằng văn bản.

Nếu chủ hộ không đồng ý:

Trong trường hợp chủ hộ không đồng ý, bạn vẫn có thể tách hộ khẩu. Tuy nhiên, để thực hiện thủ tục này, bạn phải có nơi cư trú hợp pháp nghĩa là bạn phải thực hiện thủ tục đăng ký hộ khẩu thường trú theo thủ tục quy định tại điều 21 Luật Cư trú:

“Điều 21. Thủ tục đăng kí thường trú.
1. Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan công an sau đây:
a) Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã;
b) Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

2. Hồ sơ đăng ký thường trú bao gồm:
a) Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu;
b) Giấy chuyển hộ khẩu theo quy định tại Điều 28 của Luật này;
c) Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp. Đối với trường hợp chuyển đến thành phố trực thuộc trung ương phải có thêm tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này.

3. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải cấp sổ hộ khẩu cho người đã nộp hồ sơ đăng ký thường trú; trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.”

Sau khi thực hiện xong thủ tục này, bạn có thể tiến hành xóa đăng ký thường trú tại nơi ở cũ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 22:

“Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xóa đăng ký thường trú:

đ: Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ”

Theo đó, thủ tục xóa hộ khẩu thường trú sẽ được thực hiện theo quy định tại thông tư số 35/2014/TT-BCA Quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật cư trú:

"a) Đối với các xã, thị trấn thuộc huyện thuộc tỉnh

- Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo đã đăng ký thường trú của cơ quan đăng ký cư trú nơi công dân chuyển đến, phải thông báo cho người bị xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình mang sổ hộ khẩu đến làm thủ tục xóa tên trong sổ đăng ký thường trú, xóa tên trong sổ hộ khẩu (đối với trường hợp không chuyển cả hộ), thông báo việc đã xóa đăng ký thường trú cho Công an huyện;

- Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo việc xóa đăng ký thường trú của Công an xã, thị trấn; Công an huyện phải chuyển hồ sơ đăng ký thường trú cho Công an cùng cấp nơi công dân chuyển đến và thông báo cho tàng thư căn cước công dân;

b) Đối với các huyện, quận, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo đã đăng ký thường trú của cơ quan đăng ký cư trú nơi công dân chuyển đến, phải thông báo cho người bị xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình mang sổ hộ khẩu đến làm thủ tục xóa tên trong sổ đăng ký thường trú, xóa tên trong sổ hộ khẩu (đối với trường hợp không chuyển cả hộ), thông báo việc đã xóa đăng ký thường trú cho tàng thư căn cước công dân và Công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, phải chuyển hồ sơ đăng ký thường trú cho Công an cùng cấp nơi công dân chuyển đến.

4. Quá thời hạn 60 (sáu mươi) ngày, kể từ ngày có người thuộc diện xóa đăng ký thường trú mà đại diện hộ gia đình không làm thủ tục xóa đăng ký thường trú theo quy định thì Công an xã, phường, thị trấn nơi có người thuộc diện xóa đăng ký thường trú lập biên bản, yêu cầu hộ gia đình làm thủ tục xóa đăng ký thường trú. Sau thời hạn 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày lập biên bản, nếu đại diện hộ gia đình không làm thủ tục xóa đăng ký thường trú thì Công an xã, thị trấn thuộc huyện thuộc tỉnh, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Công an quận, huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành xóa đăng ký thường trú"

Như vậy, trong trường hợp của bạn, để tách hộ khẩu có thể thực hiện thủ tục đăng ký thường trú tại nơi ở mới và thủ tục xóa đăng ký thường trú tại nơi ở mới nói trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Hạn chế quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn ? Chia tài sản khi ly hôn ?

4. Tư vấn thủ tục ly hôn khi chồng bỏ đi theo nhân tình ?

Thưa luật sư, Tôi là N.T.M.T, tôi muốn ly hôn với chồng vì chồng tôi đã ngoại tình vì khuyên can không được nên tôi quyết định ly hôn. chúng tôi kết hôn năm 2014 và có với nhau 1 đứa con (11 tháng tuổi).

Chồng tôi đã bỏ nhà đi theo tình nhân được 3 tháng nay không liên lạc được cũng không biết anh ta ở đâu, làm gì, dùng số điện thoại nào? tôi đã làm đơn ly hôn nộp về nơi anh ta trước đây sinh sống nhưng người ta không nhận, vì họ nói tôi không rõ nơi ở của anh ta nên họ không thể nhận đơn của tôi, họ yêu cầu tôi phải xác minh, nhưng khi đi xác minh thì người ta nói phải chính người đó (là chồng tôi) đi thì mới chấp nhận xác minh.

Xin hỏi: Bây giờ tôi không biết anh ta nơi nào nữa tôi muốn ly hôn và không muốn dính dáng gì với anh ta thì xin hỏi luật sư tôi phải làm sao? tôi cần làm gì? tôi với anh ta có con chung nhưng tôi không muốn con tôi gặp anh ta hay cần anh ta chu cấp tôi có thể xin toà về việc này được không? Mong có được sự giúp đỡ của luật sư, xin cám ơn!

Người hỏi: N.T.M.T

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.0159

Trả lời:

Thứ nhất, về việc ly hôn trong trường hợp không rõ địa chỉ một người ở đâu?

Theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 về thẩm quyền giải quyết của tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu như sau :

Điều 36. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

Như vậy bạn có thể yêu cầu Tòa án nơi mà chồng bạn làm việc hoặc có trụ sở cuối cùng để giải quyết.

Theo quy định tại BLTTDS Điều 59 điểm a, khoản 2, Điều 58, điểm a, khoản 1 bạn có nghĩa vụ:

cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

Do đó bạn cần cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh về nơi cư trú cuối cùng của chồng bạn cho tòa án. Có thể là giấy xác nhận của cơ quan về ngày làm việc cuối cùng của chồng bạn

Thứ hai, về vấn đề con chung ,cấp dường, chăm nom sau khi ly hôn

con bạn chỉ mới được 11 tháng như vậy theo quy định của Luật hôn nhân gia đình 2014 bạn sẽ được quyền nuôi con

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Luật hôn nhân gia đình quy định tại Điều 82, Điều 83 về quyền, nghĩa vụ của ngươi trực tiếp nuôi con và người không trực tiếp nuôi con như sau :

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Như vậy, việc cấp dưỡng cho con chưa thành niên là nghĩa vụ đối với người không trực tiếp nuôi con. trong trường hợp chồng bạn muốn cấp dưỡng thì tòa án không thể thõa mãn yêu cầu của bạn. và đây cũng là quyền lợi của con bạn nên bạn cần cân nhắc.

Luật cũng quy định việc cản trở con cái gặp cha mẹ sau khi ly hôn là vi phạm pháp luật.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Tư vấn về việc phân chia tài sản khi ly hôn ?

Thưa luật sư, Vợ chồng tôi lấy nhau được hơn hai năm. Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn nên đã quyết định ly hôn. Chồng tôi ở Thanh Hoá còn tôi ở Hà Nội. Khi mới kết hôn vợ chồng tôi sống tại nhà tôi ở Hà Nội vì nhà ở Thanh Hoá đang xây dựng.

Khi xây dựng xong vợ chồng tôi đã về sinh sống tại Thanh Hóa. Quyền sử dụng đất mang tên bố chồng tôi nhưng ngôi nhà là do vợ chồng tôi góp sức xây nên. Rồi những vật dụng trong nhà đều là do vợ chồng tôi sắm sửa từ bàn ghế, tivi... đều rất giá trị.

Vậy tôi muốn hỏi khi ly hôn tôi có được phân chia tài sản không?

- H.T.D

Tư vấn về việc phân chia tài sản khi ly hôn ?.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.0159

Trả lời :

Theo như nội dung thư mà bạn gửi cho chúng tôi thì hiện nay vợ chồng bạn đang có tranh chấp về tài sản khi ly hôn. Theo như nội dung thư thì tài sản là quyền sử dụng đất mang tên bố chồng bạn nhưng ngôi nhà là do vợ chồng bạn góp sức xây nên, những vật dụng trong nhà đều là do vợ chồng bạn sắm sửa từ bàn ghế, tivi...Trong trường hợp này, tranh chấp về tài sản của vợ chồng bạn sẽ được giải quyết như sau theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 :

"Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Theo đó, quyền sử dụng đất của bố chồng bạn vẫn là tài sản của bố chồng bạn, tuy nhiên, ngôi nhà và các vật dụng trong nhà sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng bạn. Nếu các bạn có yêu cầu chia tài sản chung thì tài sản này sẽ được chia như sau theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch."

Việc chia cụ thể như thế nào thì vợ chồng bạn có thể thỏa thuận. Nếu không thể thỏa thuận thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định như đã nêu trên. Bạn sẽ được chia phần tài sản tương xứng với công sức đóng góp của bạn vào khối tài sản chung vợ chồng.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn ly hôn khi hai vợ chồng không có chung sổ hộ khẩu ? Quyền chăm sóc con sau ly hôn ?