Trong một lần cãi nhau, chị C cùng đứa con bỏ về nhà mẹ ruột của mình, còn tôi thì trở về sống chung với chị B như trước.
Câu hỏi:
a/- Quan hệ giữa tôi và chị B có vi phạm pháp luật không ?

b/- Chị C có quyền khởi kiện tôi và chị B không ? Tại sao ?

c/- Theo Luật sư, tình huống trên cần phải giải quyết như thế nào ?

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê

Vợ hoặc chồng sống chung với người khác trong thời kỳ hôn nhân?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân và Gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1.Cơ sở lý thuyết:

>> Xem thêm:  Cách làm giấy khai sinh cho trẻ khi vợ bỏ đi ?

- Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 

2. Nội dung tư vấn:

a/- Quan hệ giữa bạn và chị B có vi phạm pháp luật không?

Theo thông tin bạn cung cấp, giữa bạn và chị B đã được Tòa án giải quyết việc ly hôn và có bản án theo quy định của pháp luật tức là giữa 2 người không có quan hệ về hôn nhân nữa, sau đó bạn đã kết hôn hợp pháp hợp pháp với chị C  mặc dù chị C và con bỏ sang nhà mẹ đẻ nhưng chỉ là mâu thuẩn giữa 2 người mà hôn nhân giữa bạn và Chị C vẫn chưa chấm dứt vì chưa có bản án quyết định của Tòa án (Vẫn là Vợ chồng). Do đó, theo quy định tại điểm c - Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

“2. Cấm các hành vi sau đây:

"Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ". 

Do đó, trong trường hợp bạn và vợ bạn chưa ly hôn nhưng  bạn đã có hành vi chung sống với người  khác, nên bạn đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì thế, vợ bạn (tức là chị C) có thể gửi đơn lên Ủy ban nhân dân xã đề nghị xử lý hành vi vi phạm pháp luật của bạn và chị B theo quy định pháp luật.

Quy định tại Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác".

b/- Chị C có quyền khởi kiện bạn và chị B không ? Tại sao ?

Theo như thông tin bạn cung cấp ban đầu và dựa trên phần phân tích ở trên thì Vợ bạn (chị C)  có thể gửi đơn lên Ủy ban nhân dân xã đề nghị xử lý hành vi vi phạm pháp luật của bạn và chị B về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng theo quy định tại theo quy định tại điểm c - Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định mà chưa có căn cứ để gửi đơn khởi kiện ra Toàn án.

Bên cạnh đó,Theo quy định tại Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009)

"1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.
2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".
Như vậy, nếu việc bạn chung sống với chị B mà đã bị vợ bạn gửi đơn lên Uỷ ban nhân xã để xử lý vi phạm hành chính (dù chỉ 1 lần) thì vợ bạn có thể lấy căn cứ để gửi đơn khởi kiện ra Tòa án theo quy định tại Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009).
 
c/- Theo Luật sư, tình huống trên cần phải giải quyết như thế nào ?
Đối với trường hợp của bạn, theo chúng tôi xin được đưa ra một số lời khuyên, tư vấn như sau:
- Bạn nên chấm dứt quan hệ sống chung với chị B.
- Nếu cảm thấy Vợ chồng bạn không hòa thuận, mối quan hệ không thể kéo dài, phai nhạt đần tình cảm vợ chồng thì bạn và chị C có thể thỏa thuận ly hôn hoặc đơn phương xin ly hôn theo yêu cầu của 1 bên nếu không thể thuận tình ly hôn quy định tại điều 55, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về Hôn nhân và gia đình năm 2014, một số văn bản pháp luật khác đã phân tích ở trên và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân và gia đình.