1. Có thể khởi kiện người ngoại tình, phá hoại hôn nhân ?

Thưa luật sư, Em muốn khởi kiện người mà đã phá hoại hôn nhân của Em ? Tức là người đã ngoại tình với vợ Em. Vậy Em phải làm sao ?
Người hỏi: T.P

Xử lý hành vi ngoại tình và hậu quả sau ngoại tình như thế nào ?

Kiện người phá hoại hôn nhân của người khác, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Vợ bạn ngoại tình bạn có quyền kiện người ngoại tình với vợ bạn. Hành vi này vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng quy định tại khoản 1 điều 182 Bộ Luật hình sự năm 2015:

Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Khi bạn đã có đủ chứng cứ người kia ngoại tình với vợ bạn, đơn khởi kiện của bạn sẽ gửi đến tòa án nhân dân quận, huyện nơi bạn đang thường trú để giải quyết theo thẩm quyền trong trường hợp họ ngang nhiên chung sống với nhau như vợ chồng.

Còn trường hợp, hai người này nén quan hệ qua lại với nhau thì không thể (hoặc rất khó) xử lý hành vi ngoại tình. Hệ thống pháp luật của chúng ta điều chỉnh vấn đề này dưới cặp phạm trù đạo đức, văn hóa và lối sống.

Trong trường hợp không thể duy trì cuộc sống hôn nhân thì giải pháp ly hôn sẽ là phương pháp cuối cùng bạn cần tính đến, có thể tham khảo: Tư vấn thủ tục ly hôn

>> Xem thêm:  Nên làm đơn khởi kiện hay đơn trình báo công an ? Thủ tục, quy trình khởi kiện theo quy định mới ?

2. Xử lý hành vi ngoại tình, hậu quả sau ngoại tình như thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Chồng tôi đã vi phạm pháp luật hôn nhân gia đình, cách đây 2 tháng chồng tôi đánh đập tôi xong dọn đồ đạc đi sống cùng với một người đàn bà khác, hiện tại tôi muốn thưa chồng tôi và người đàn bà đó thì phải làm thế nào ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Hiện tại, hành vi ngoại tình pháp luật không xử lý mà chỉ xử lý hành vi chung sống như vợ chồng.

Chung sống như vợ chồng được giải thích tại Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC Hướng dẫn áp dụng các quy định tại chương XV Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình cụ thể là:

"3. Về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

3.1. Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó... ".

Hành vi chung sống như vợ chồng pháp luật xử lý giữa 2 dạng: hành chính và hình sự.

Nghị định 110/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp (Nghị định 67/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 110/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp ) quy định như sau:

"Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;".

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:

"Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó".

Đối với trường hợp nếu sự việc chỉ dừng lại ở góc độ hành chính thì bạn làm đơn đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu giải quyết.

Đối với trường hợp sự việc đã đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bạn làm đơn tố giác tội phạm gửi đến cơ quan công an để điều tra và truy tố.

Thưa luật sư, Hiện nay vợ chồng tôi lấy nhau được 4 năm nhưng vẫn chưa có con. Nhưng mới đây chồng tôi có ngoại tình và có 1 đứa con riêng bên ngoài hiện tại đứa bé đã được 7 tháng tuổi vợ chồng tôi có ý đinh muốn đón bé về nuôi. Nhưng mẹ bé không đồng ý mặc dù tên khai sinh của đứa trẻ vẫn mang họ của chồng tôi. Và lại cô ta cũng có 2 đứa con riêng và chồng thì đang đi tù gia cảnh cô ta lại rất khó khăn. Vậy chúng tôi có giành được quyền nuôi bé không ?

Nếu muốn giành được quyền nuôi con thì trước hết chồng bạn phải chứng minh chồng bạn là cha ruột của bé và được pháp luật công nhận.

Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 89. Xác định con

1. Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.

2. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.".

Sau khi xác nhận cha con, chồng bạn có thể căn cứ vào điều 81 Luật hôn nhân gia đình để giành quyền nuôi con:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.".

Con 7 tháng tuổi nên quyền ưu tiên nuôi con thuộc về người mẹ. Nếu chồng bạn muốn giành quyền nuôi con thì anh phải chứng minh người vợ không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con để Tòa án giao con cho chồng bạn.

Chào anh chị em tên là T. Em muốn hỏi là hành vi của bố em có được xếp tội xúc phạm hay không? Bố em đã gửi 2 lá thư tới cơ quan 2 chị em đang làm việc với lời lẽ rất tục tĩu, kể lể nhằm bêu xấu 2 chị em. Ông còn nhắn tin vào số điện thoại chị em nguyền rủa mẹ em đồng thời trước đây ông còn đi hàng xóm xung quanh bêu xấu mẹ em ngoại tình... Em rất bức xúc vì vậy mong anh chị tư vấn giúp em. Em cảm ơn rất nhiều ạ.

Về hành vi của bố bạn có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác nếu đáp ứng được các yếu tố theo quy định tại điều 155 Bộ luật hình sự 2015:

"Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.".

Rõ ràng, bố bạn xúc phạm nhân phẩm, danh dự của chị em bạn, mẹ bạn thông qua rất nhiều hình thức: gửi thư, bêu xấu trực tiếp....Nếu hai chị em và mẹ bạn chứng minh được những thiệt hại do hành vi của bố bạn gây ra thì hoàn toàn có thể xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội này. Gia đình bạn để giải quyết thì cần làm đơn tố giác tội phạm gửi đến cơ quan công an.

>> Xem thêm:  Đã ly hôn chồng không cho gặp con phải làm như thế nào ? Quyền nuôi con khi ly hôn ?

3. Ngoại tình ly hôn có thể bị chia tài sản ít hơn khi ly hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Việc ngoại tình khi ly hôn có bị chia tài sản thấp hơn không ? Có được nuôi con khi bị phát hiện ngoại tình không ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Trong nhiều trường hợp vợ/chồng phát hiện chồng/vợ mình ngoại tình, đòi ly hôn nhưng đối phương không chấp nhận ký đơn ly hôn khiến cuộc sống gia đình rơi vào bế tắc. Tuy nhiên người vợ/người chồng có chồng/vợ ngoại tình hoàn toàn có thể nộp đơn ra tòa xin đơn phương ly hôn nếu thu thập được chứng cứ chứng minh việc ngoại tình của chồng/vợ mình.

Theo khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Như vậy, bạn đọc này có quyền đơn phương ly hôn.

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Khi một bên yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình; hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Do đó,nếu có chứng cứ về việc người chồng ngoại tình, không chung thủy thì Tòa án sẽ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bạn.

Theo quy định tại Điều 81 Luật HNGĐ 2014 thì vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con; nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn cụ thể như sau :

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Trong trường hợp này, đứa bé còn nhỏ nên nếu bạn đọc này có điều kiện để trực tiếp nuôi con và không có thỏa thuận khác với người chồng thì cháu bé sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi.

Nếu người mẹ không đủ điều kiện và không thỏa thuận được với nhau thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

Nguyên tắc giải quyết tài sản khi ly hôn là do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết theo quy định.

Theo trình bày của bạn này thì đây là tài sản chung của vợ chồng nên về nguyên tắc được chia đôi. Tuy nhiên, tỷ lệ phân chia tài sản chung có tính đến các yếu tố như hoàn cảnh gia đình 2 bên, công sức đóng góp của từng người vào việc tạo lập tài sản, lỗi của mỗi bên dẫn đến ly hôn…

Trong trường hợp của bạn đọc này, nếu có bằng chứng về việc người chồng ngoại tình, không chung thủy thì khi giải quyết, xét xử vụ án, Hội đồng xét xử sẽ xem xét yếu tố lỗi của người chồng dẫn đến việc ly hôn để chia tài sản theo tỷ lệ có lợi hơn cho người vợ. Tỷ lệ cụ thể do sự nhận định, đánh giá của Hội đồng xét xử khi căn cứ vào các yếu tố nêu trên

>> Xem thêm:  Những rủi ro khi vắng mặt không lý do tại tòa án buổi hòa giải và giải quyết việc ly hôn ?

4. Tư vấn giành quyền nuôi con khi chồng ngoại tình ?

Thưa luật sư, cho mình hỏi: Vợ chồng mình lấy nhau cũng được hơn 5 năm rồi. Và có một cháu trai hơn 4 tuổi nhưng gần đây gia đình mình có mâu thuẫn nặng nề. Chồng mình đi ra ngoài và đã quan hệ với một người phụ nữ khác.
Thậm chí có một thời gian bỏ nhà đi, sống với người phụ nữ đó, về quê họ tổ chức đám cưới và có con riêng với nhau. Đến khi chồng mình về nhà thì không còn quan tâm đến vợ con, bỏ bê vợ con. Có lần còn đánh, chửi vợ con. Cho mình hỏi như vậy mình làm đơn có được quyền nuôi con không ?
- Nguyễn Thị Hoa

Luật sư trả lời:

Thứ nhất, về việc ly hôn đơn phương

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

" Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì ly hôn là quyền của mỗi bên. Trong trường hợp của bạn, nếu bạn chứng minh được hành vi bạo lực gia đình của chồng bạn cũng như những hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng thì tòa án sẽ căn cứ vào đó để giải quyết yêu cầu ly hôn đơn phương của bạn.

* Thủ tục ly hôn:

- Bước 1: Bạn nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND cấp quận/huyện nơi chồng bạn đang cư trú, làm việc.

- Bước 2: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án sẽ thụ lý giải quyết vụ án và sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho người đã nộp đơn.

- Bước 3: Căn cứ thông báo của Toà án,bạn tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự cấp quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án (Nếu TAND cấp tỉnh giải quyết thì nộp tại Cục thi hành án dân sự cấp tỉnh).

- Bước 4: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản án hoặc Quyết định giải quyết vụ án.

* Hồ sơ ly hôn đơn phương bao gồm:

- Đơn xin ly hôn (theo mẫu).

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính).

- Sổ hộ khẩu (bản sao có chứng thực).

- CMND/hộ chiếu (bản sao có chứng thực).

- Giấy khai sinh của con (bản sao có chứng thực - nếu có).

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất/ quyền sở hữu nhà ở (sổ đỏ); đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao).

Thứ hai, về việc giành quyền nuôi con

Theo Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, bạn có thể thỏa thuận với chồng về việc nuôi con. Nếu không thỏa thuận được, tòa án sẽ giải quyết căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau với mục đích tìm được người có thể đáp ứng tối đa yêu cầu cho sự phát triển của đứa trẻ. Theo đó, Tòa án sẽ dựa trên 3 yêu tố sau:

+ Điều kiện về vật chất bao gồm:Thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;

+ Điều kiện về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn … của cha mẹ.

+ Nguyện vọng của con: Con mong muốn được ở với ai (chỉ áp dụng với con từ đủ 7 tuổi trở lên).

Như vậy, nếu bạn chứng minh được bạn có đủ điều kiện nuôi dạy các con tốt hơn chồng của bạn như có công việc và thu nhập ổn định, có điều kiện đảm bảo dạy dỗ con cái, và các điều kiện về tinh thần khác. Đặc biệt trong trường hợp này, bạn nên đưa ra những căn cứ về việc chồng bạn ngoại tình,không quan tâm chăm sóc con, bỏ mặc mọi trách nhiệm nuôi dạy con cho bạn, còn có hành vi bạo lực gia đình ảnh hưởng xấu đến sự hình thành và phát triển nhân cách của các cháu. Như vậy, cơ hội bạn giành được quyền nuôi nuôi con là rất lớn..

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn?

5. Thỏa thuận bồi thường khi bị bắt quả tang ngoại tình có giá trị pháp lý hay không ?

Thưa luật sư, Tôi có câu hỏi muốn hỏi như sau: Em trai của mẹ tôi, tức cậu ruột tôi. Sau khi bắt được vợ ngoại tình với người khác trong chính phòng ngủ của nhà cậu thì gia đình của cậu và gia đình bên người tình thống nhất với nhau là bồi thường thiệt hại về tinh thần cho cậu tôi số tiền hơn 30 triệu đồng có xác nhận của đôi bên và có cả trưởng công an xã đã xử lý vụ việc.
Tuy nhiên, bây giờ gia đình bên người tình của mợ tôi lại kiện cậu tôi. Vậy cho tôi hỏi cậu tôi có vi phạm không. Nếu có thì như thế nào. Và mợ tôi với người tình nữa sẽ xử lý như thế nào ?
Rất mong sự phản hồi sớm của quý công ty.

Ngoại tình ly hôn có thể bị chia tài sản ít hơn theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về ngoại tình, gọi:1900.6162

Luật sư trả lời:

Theo dữ liệu mà bạn đưa ra thì mợ bạn ngoại tình, việc ngoại tình này đã được phát hiện thông qua hình thức bắt quả tang. Nếu vậy, theo đúng quy định pháp luật thì mợ bạn và người tình có thể sẽ bị xử phạt vi phạt hành chính theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP, cụ thể:

"Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;.."

Nếu hành vi ngoại tình này mà gây ra hậu quả nghiêm trọng như: vợ chồng mợ bạn ly hôn, chồng, con vì thế mà tự sát,... thì mợ bạn và người tình sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, cụ thể:

"Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm..."

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của cậu bạn, bạn cần phải xem xét hành vi này của mợ bạn đã gây ra ảnh hưởng, thiệt hại gì tới cậu bạn: cậu bạn bị ảnh hưởng về danh dự, uy tín,... Nếu như có thể chứng minh những thiệt hại này thì cậu bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu vợ mình và người tình bồi thường theo quy định tại Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015:

"Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

Theo quy định trên thì pháp luật thừa nhận sự thỏa thuận giữa các bên trong vấn đề bồi thường thiệt hại về tinh thần. Tuy nhiên thỏa thuận này phải là thỏa thuận giữa cậu bạn và mợ bạn với người tình. Theo dữ liệu bạn đưa ra thì thỏa thuận này lại là thỏa thuận giữa cậu bạn và gia đình nhà người tình do đó bên bản thỏa thuận này không có giá trị.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?