Khách hàng: Kính thưa Luật sư, việc xây dựng hệ thống các quy phạm phần chung pháp luật hình sự của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn (1945-1955) được thực hiện như thế nào?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

1. Những lưu ý trong xây dựng hệ thống các quy phạm phần chung pháp luật hình sự giai đoạn 1945 - 1954

Trước hết, cần phải khẳng định rằng, do những khó khăn của tình trạng thời chiến nên trong sách báo pháp lý hình sự và pháp luật hình sự thực định ở nước ta giai đoạn 10 năm đầu tiên từ sau Cách mạng Tháng Tám đến khi cấm hoàn toàn việc áp dụng các đạo luật hình sự của chế độ cũ (1945-1955) - nhà làm luật Việt Nam chưa hề có sự phân biệt rõ ràng và cụ thể giữa hai phạm trù (khái niệm) Phần chung và Phần riêng pháp luật hình sự.

Chính vì vậy, trong các văn bản pháp luật hình sự lúc đó cũng không hề có sự phân chia rõ ràng và dứt khoát các quy phạm nào thuộc Phần chung và các quy phạm nào thuộc Phần riêng. Chính vì vậy, khi phân các quy phạm pháp luật hình sự chúng ta cần lưu ý như sau:

a. Thực chất khi nghiên cứu hệ thông các quy phạm Phần chung pháp luật hình sự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 10 năm đầu tiên (1945-1955) từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đến khi cấm hoàn toàn việc áp dụng các đạo luật hình sự cũ về cơ bản chỉ là chắt lọc và lựa chọn ra từ các sắc lệnh đầu tiên đề cập trực tiếp việc đấu tranh chống tội phạm (tức trách nhiệm hình sự đối với các nhóm tội phạm nhất định - Phần riêng pháp luật hình sự) những gì có thể tạm được coi là có liên quan (ở các mức độ khác nhau) đến Phần chung pháp luật hình sự mà phân tích.

b. Vì nhiều nguyên nhân (chủ quan và khách quan) khác nhau nên các văn bản pháp luật được ban hành lúc bấy giờ chưa có sự phân biệt rõ ràng, rành mạch giữa hai hệ thống các quy phạm Phần chung, cũng như hệ thống các quy phạm Phần riêng pháp luật hình sự và do đó, không thể gọi ngay đó là “Phần chung” pháp luật hình sự được mà trước hai từ “Phần chung” ở đây đôi khi cần phải có các thuật ngữ là “có liên quan đến” Phần chung pháp luật hình sự thì mối bảo đảm tính chính xác cả về mặt không gian và thời gian của giai đoạn 19 năm đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám (1945-1955).

c. Vì hai lý do đã nêu trên đây nên thực chất là khi nghiên cứu các quy phạm nào có liên quan (dù chỉ là ở mức độ rất ít) đến Phần chung pháp luật hình sự giai đoạn này để phân tích riêng thì chúng ta gặp không ít khó khăn vì phải chịu khó đầu tư nhiều thời gian để tìm tòi, khảo cứu tỉ mỉ và cụ thể để chắt lọc và tách bóc riêng ra từ các văn bản pháp luật hình sự (thuộc hai nhóm đã nêu trên) mà trong đó nhà làm luật chủ yếu là chỉ quy định về các tội phạm và các hình phạt cụ thể tương ứng, nói một cách khác là chỉ quy định về trách nhiệm hình sự đôì với các tội phạm riêng biệt (tức những gì được coi là thuộc Phần riêng pháp luật hình sự).

 

2. Khái niệm tội phạm trong pháp luật hình sự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1955)

Khái niệm tội phạm trong giai đoạn (1945-1955) mặc dù chưa được chính thức đề cập trong bất kỳ quy phạm pháp luật hình sự nào của nước ta trong giai đoạn 10 năm đầu tiên (1945-1955) sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Tuy nhiên, việc phân tích cả hai nhóm sắc lệnh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn này có thể nhận thấy rằng ở các mức độ khác nhau nhà làm luật đã cho thấy căn cứ lập pháp để hình thành nên quan niệm về hành vi (bằng hành động) hoặc bất tác vi (không hành động) như thế nào thì bị coi là tội phạm và vì gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội mới - các lợi ích của Nhà nước dân chủ nhân dân và của Nhân dân lao động - nên người đã thực hiện hành vi đó phải bị xử phạt bằng chế tài pháp lý về hình sự.

Chẳng hạn như:

a. Hành vi (bằng hành động)

Một trong các sắc lệnh đầu tiên của nưổc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là sắc lệnh số 7 ngày 05/9/1945, tại khoản thứ 4 sắc lệnh số 7 cho rằng: “Kẻ nào tích trữ thóc gạo, mưu sự đẩu cơ, xét ra có phương hại đến nền kinh tế, sẽ bị nghiêm phạt theo quân luật và gia sản sẽ bị tịch thu”. Như vậy, theo văn bản pháp luật hình sự này thì bất kỳ hành vi tích trữ thóc gạo nào nhằm mục đích đầu cơ gây thiệt hại cho nền kinh tế của đất nước đều bị coi là nguy hiểm cho xã hội và vì thế pháp luật coi là tội phạm. Quy phạm tương tự như vậy cũng đã được ghi nhận bởi một loạt các sắc lệnh khác (đã nêu trên) của nước ta giai đoạn này như: 1) Sắc lệnh số 6 ngày 05/9/1945; 2) sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946; 3) sắc lệnh số61/SLngày 5/4/1947; 4) sắc lệnh số’ 168/SL ngày 14/4/1948; 5) sắc lệnh số 180/SL ngày 20/12/1950; v.v.

b. Bất tác vi (không hành động)

Bên cạnh những hành vi bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt, trong các sắc lệnh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhà làm luật cũng đã quy định trách nhiệm hình sự đôì vối cả bất tác vi (không hành động) bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt. Ví dụ:

- Sắc lệnh số 68 ngày 30/11/1945 quy định tại khoản 1 Điều XII rằng: “Người nào nhận được lệnh trưng tập mà không thi hành sẽ bị truy tố trước Tòa án thường và bị phạt tù từ 6 ngày đến 3 tháng, và phạt tiền từ 100 đến 2.000 đồng hoặc một trong hai hình phạt ấy. Nếu tái phạm sẽ bị phạt tù từ 2 tháng đến 2 năm, và phạt tiền từ 300 đồng đến 20.000”.

- Tương tự như trên, việc trừng phạt bất tác vi phạm tội cũng đã được quy định trong một loạt các văn bản pháp luật hình sự khác của nước Việt Nam giai đoạn này Theo công báo nước Việt Nam dân chủ công hòa, như: a) sắc lệnh số 162/SL ngày 23/8/1946 về trưng tập các y sỹ, dược sỹ, nha sĩ; b) Sắc lệnh số’ 200/SL ngày 08/7/1948; c) sắc lệnh số 93/SL ngày 22/5/1950; d) sắc lệnh số 106/SL ngày 15/6/1950; đ) Điều lệ tạm thời số 184/TTg ngày 14/4/1952 “Về nghĩa vụ dân công”;...

 

3. Vấn đề áp dụng nguyên tắc tương tự trong pháp luật hình sự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1955)

Vấn đề áp dụng nguyên tắc tương tự trong pháp luật hình sự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 10 năm đầu tiên sau cách mạng (1945-1955) mặc dù không được nhà làm luật quy định chính thức bằng quy phạm chung nào, nhưng nó được ghi nhận bằng ba điều luật riêng biệt trong ba văn bản pháp luật hình sự đề cập trách nhiệm hình sự đối với một số loại tội phạm nhất định (đã nêu trên) mà về cơ bản có nội dung giống nhau - nếu có hành động phạm pháp chưa được quy định trong văn bản tương ứng thì sẽ theo tội (điều luật) tương tự để xét xử, mà cụ thể là:

a. Sắc lệnh số 133/SL ngày 20/01/1953 (Điều 19);

b. Sắc lệnh số 151/SL ngày 12/4/1953 (Điều 11) và;

c. Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ về trừng trị một số tội xâm phạm nhân thân.

 

4. Lỗi trong pháp luật hình sự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1955)

Với tư cách là một chế định nhỏ riêng biệt của pháp luật hình sự vẫn chưa được ghi nhận bỏi quy phạm nào đó trong pháp luật hình sự Việt Nam toàn bộ thời kỳ 40 năm chưa pháp điển hóa (1945-1985) - không chỉ giai đoạn 10 năm đang xem xét (1945-1955), mà còn cả giai đoạn 30 năm tiếp theo sau đó cho đến tận trưóc khi thông qua Bộ luật Hình sự đầu tiên của đất nước (1955-1985).

Tuy nhiên, một sô' văn bản pháp luật hình sự của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong 10 năm đầu tiên sau cách mạng (1945-1955) chỗ một mức độ nào đó đã biết đến việc phân loại tội phạm theo hai hình thức lỗi - cố ý và vô ý, cũng như mục đích phạm tội vối tư cách là các dấu hiệu bắt buộc của một số cấu thành tội phạm cụ thể. Ví dụ:

a. Sắc lệnh số' 69/SL ngày 10/12/1951 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về bảo vệ bí mật Nhà nước đã đề cập cô'ý tiết lộ (Điều 4) và vô ý tiết lộ (Điều 5) bí mật Nhà nước.

b. Thông tư số’ 442-TTg ngày 19/01/1955 về trừng trị một số tội xâm phạm nhân thân — cô'ý giết người (đoạn 2 tiểu mục; vô ý làm chết người (đoạn 3 tiểu mục 3).

c. Sắc lệnh số 133/SL ngày 20/01/1953 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vê' trừng trị những tội xâm phạm đến an toàn Nhà nước đối nội và đốỉ ngoại” coi mục đích phản quốc là dấu hiệu bắt buộc của một loạt các cấu thành tội phạm cụ thể tại các điều 8-12.

 

5. Đồng phạm trong pháp luật hình sự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1955)

Đồng phạm với tư cách là một chế định nhỏ độc lập của pháp luật hình sự hoàn toàn vẫn chưa được ghi nhận chính thức về mặt lập pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam suốt thời kỳ 40 năm chưa pháp điển hóa (1945-1985).

Tuy nhiên, ỏ một chừng mực nhất định, một số văn bản pháp luật hình sự giai đoạn 10 năm đang nghiên cứu đã biết đến sự phân hóa trách nhiệm hình sự của các loại người đồng phạm khác nhau (kể cả “người oa trữ”, vì pháp luật hình sự giai đoạn này coi người oa trữ như là người giúp sức (mặc dù trong tất cả các văn bản pháp luật hình sự vẫn chưa đề cập gì việc “có hứa hẹn trước’ hay không). Ớ đây có một số điểm cần lưu ý như sau:

a. Vào những năm đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám trong kết quả của sự kế thừa từ pháp luật hình sự của Pháp nên pháp luật hình sự nước ta đã quy định trách nhiệm hình sự ngang bằng nhau của tất cả những người đồng phạm như Bộ luật Hình sự Pháp năm 1810 (Điều 59) khi “khác vói những Bộ luật Hình sự khác không biết đến sự bắt buộc giảm nhẹ hình phạt cho những người đồng phạm”1, chẳng hạn tại một số văn bản pháp luật (đã nêu trên) như:

- Sắc lệnh số 27/SL ngày 23/02/1946 (Điều thứ 2) đã quy định xử phạt nhũng ngưồi tòng phạm (giúp sức) hoặc oa trữ (che giấu) như chính phạm (người thực hành).

- Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/4/1948 (Điều thứ 2) đã quy định xử phạt người giúp sức như người tổ chức đánh bạc, mà chưa có sự phân hóa trách nhiệm hình sự.

- Sắc lệnh số 128/SL ngày 14/7/1950 (đoạn 2 Điều 1) đã quy định xử phạt những người tòng phạm (giúp sức) như chính phạm (thực hành);...

b. Dưới khía cạnh so sánh luật học, chúng ta cũng có thể nhận thấy rằng vào những năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Mười Nga (1917-1918) theo pháp luật hình sự Xô viết trưốc pháp điển hóa lần thứ nhất (1922) trong số’ những người đồng phạm (người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức) còn bao gồm cả người oa trữ và người không tố" giác, nhưng sau đó tại Phần V “Về đồng phạm” của “Những phương châm chỉ đạo đối với Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga năm 1919” thì nhà làm luật khi phân loại những người đồng phạm cũng đã ghi nhận định nghĩa pháp lý các khái niệm tương ứng chỉ của 03 loại người đồng phạm - người xúi giục (Điều 22), người thực hành (Điều 23) và người giúp sức (Điều 24).

c. Tuy nhiên về sau này, pháp luật hình sự nưóc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có sự đánh giá khác nhau về mặt nguyên tắc vai trò và mức độ tham gia của từng loại người đồng phạm. Ví dụ: Tại các điều 4-7, 11 và 13 sắc lệnh số 133/SL ngày 20/01/1953 bên cạnh việc quy định trách nhiệm hình sự nặng hơn của người tổ chức so vói người thực hành và người giúp sức cũng đã phân loại những hành vi của người xúi giục (Điều 8) và người che giấu như là những cấu thành tội phạm riêng biệt với các chế tài xử phạt được quy định ngang hàng như đôì vối những hành vi của người tổ chức.

d. Đối với các hình thức đồng phạm, thì pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn này không ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm nào, mà chỉ quy định việc thực hiện tội phạm của từ hai người trở lên hoặc của một nhóm người có tổ chức là những tình tiết tăng nặng đối vối một số cấu thành tội phạm riêng biệt.

Ví dụ theo các văn bản pháp luật như: Sắc lệnh số 163/SL ngày 23/8/1946 (các đoạn 2-4 điểm “e” Điều 7) quy định là đào ngũ mà do hai người trở lên thực hiện hay; Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 thì các hành vi cướp giật và trộm được thực hiện bỗi nhóm người có tổ chức như là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Còn Sắc lệnh số 106/SL quy định việc cùng bàn bạc và cùng trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc việc phục vụ trong quân đội như là cấu thành tội phạm độc lập (điểm “b” Điều 4).

Trân trọng!