1. Xin tư vấn về thủ tục ly hôn ở tỉnh Hà Nam ?

Thưa luật sư, tôi muốn hỏi: Vợ chồng tôi cùng sinh năm 1987 và kết hôn tháng 2 năm 2014 tại Ủy ban Xã Thanh Tâm, Huyện Thanh Liêm, Tỉnh Hà Nam. Nhà tôi ở xã Thanh Nghị, Huyện Thanh Liêm, cách nhà chồng tôi 4 km.

Trước khi tiến tới hôn nhân chúng tôi đã không tìm hiểu nhau kỹ (chúng tôi gặp nhau 2 lần, 1 lần tháng 5//2013, 1 lần tháng 9/2013) do vậy chúng tôi không hề hiểu tính cách của nhau. Trong quá trình chung sống, chồng tôi làm cầu đường nên thường xuyên xa nhà, bình thường 1 tháng hoặc hơn 1 tháng về thăm tôi 1 lần khoảng 3-5 ngày (vì công trường chồng tôi ở Điện Biên còn tôi làm trong cơ quan nhà nước ở Hà Nội), sau này từ tháng 10/2014, chồng tôi chuyển về Hòa Bình làm thì 1-2 tuần về thăm tôi 1 lần vào 1 buổi tối. Do không có thời gian gặp nhau nên chúng tôi không thường xuyên trò chuyện và chia sẻ về cuộc sống.

Vì vậy bản thân tôi cảm thấy rất khó khăn để tiếp tục sống với chồng. Tôi không hiểu chồng và anh không hiểu tôi, nên cuộc sống chúng tôi không có điểm chung. Khi chồng về tôi không có cảm hứng và thường xuyên lạnh nhạt với chồng. Hiện giờ tôi đang có thai gần 3 tháng.Trước khi cưới, gia đình tôi có cho tiền mua 1 căn hộ chung cư trả góp trên Hà Nội (khoảng 40% giá trị căn nhà), tôi đứng tên chủ hợp đồng. Sau khi cưới, vợ chồng tôi có làm thủ tục vay ngân hàng BIDV với tổng số tiền 465 triệu (60% giá trị căn nhà) từ tháng 4/2014. Hiện giờ hàng tháng vợ chồng tôi phải trả ngân hàng khoảng 5-6 triệu. Nhà tôi hiện giờ đã bàn giao xong, gia đình tôi đến ở được 2 tháng rồi, nhưng chưa làm sổ đỏ. Nếu ly hôn, vợ chồng tôi không có tranh chấp gì về khoản tiền đã đóng ngân hàng trước đó, vì có tháng tôi đóng, có tháng chồng tôi đóng. Và các chi phí khác trong cuộc sống sau khi cưới (thuê nhà, ăn uống,...) tôi tự lo cho bản thân. Tôi mong muốn được ly hôn xong hiện giờ chồng tôi không đồng ý. Nhưng tôi thấy rất mệt mỏi và hay suy nghĩ, đôi khi tôi có những suy nghĩ tiêu cực, buồn tủi, khóc lóc, tôi mong được ly hôn để được giải thoát khỏi những suy nghĩ và chăm lo tốt cho thai nhi tôi đang mang trong bụng vì tôi biết suy nghĩ và đau buồn sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Trước và sau khi cưới tôi không hề có tình cảm với chồng, tôi không yêu chồng do vậy nhiều lúc không tôn trọng chồng. Chúng tôi thường xuyên cãi vã, chồng tôi có lúc nóng giận đã đập vỡ điện thoại của tôi. Tôi đã suy nghĩ rất kỹ về việc ly hôn và tha thiết mong được ly hôn. Tôi cảm thấy cuộc sống vợ chồng như địa ngục. Vợ chồng tôi hiện giờ sống như đang ly thân, chúng tôi không ngủ chung phòng, không liên lạc điện thoại, không trò chuyện. Tôi mong và xin được luật sư tư vấn về thủ tục ly hôn cũng như hỗ trợ và giúp đỡ tôi nhanh chóng được ly hôn mà không gây ầm ĩ. Tôi đang có thai nên chỉ muốn giải thoát tâm lý cho bản thân, tránh các suy nghĩ tiêu cực. Tôi mong được ly hôn trong im lặng, để cơ quan tôi ở Hà Nội và làng xóm ở quê tôi không biết chuyện ly hôn của tôi hiện nay.

Mong luật sư sớm giải đáp giúp tôi, tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.C

Hướng dẫn thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của công ty chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Thứ nhất, về thủ tục ly hôn:

Căn cứ vào điều 51, 53, 54, 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 Thủ tục ly hôn đơn phương được thực hiện cụ thể như sau:

- Bạn nộp hồ sơ ly hôn và gửi tới tòa án nhân dân cấp huyện để yêu cầu giải quyết ly hôn, tòa án sẽ thụ lý hồ sơ yêu cầu theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

- Sau khi đã thụ lý hồ sơ ly hôn, tòa án sẽ tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

- Khi tòa án hòa giải không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Hồ sơ ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn đơn phương ( Theo mẫu của Tòa án )

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ( bản chính )

- Chứng minh nhân dân của vợ và chồng ( bản sao có chứng thực )

- Giấy khai sinh của các con ( bản sao )

- Sổ hộ khẩu gia đình

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản ( nếu có )

Thứ hai, về vấn đề tài sản và con cái sau khi ly hôn chia như sau:

-Tài sản:

Tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng. Trong đó bạn lưu ý thời điểm phát sinh tài sản thì luật hôn nhân nào có hiệu lực để xác định là tài sản chung hay tài sản riêng.

Theo nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn tại điều 59, luật hôn nhân gia đình 2014 thì tài sản riêng của người nào thì thuộc sở hữu của người đó trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung; tài sản chung của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

"Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng."

-Con cái: quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con cái khi ly hôn

"Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật này."

Do bạn đang mang thai nên quyền nuôi con ở thời điểm hiện tại cho đến khi con bạn được 36 tháng tuổi thuộc về bạn tuy nhiên sau thời hạn này thì chồng bạn cũng có thể yêu cầu tòa án thay đổi người nuôi con. Chồng bạn sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con bạn.

>> Xem thêm:  Người thờ cúng tổ tiên có được pháp luật ưu ái khi chia tài sản thừa kế không ?

2. Người mẹ có được quyền nuôi cả hai con khi ly hôn không ?

Tôi có 1 người bạn đã kết hôn và có 2 con: 1 cháu gái 7 tuổi và cháu trai hơn 3 tuổi. Do người chồng thường xuyên vô cớ gây sự mắng chửi vợ và còn đánh vợ. Chồng làm nghề sửa xe, vợ làm nghề may tại nhà và làm thêm nghề lao công tại trường học. Thu nhập 2 vợ chồng tương đương nhau. Vợ có 3 em gái làm giáo viên. Cuộc sống gia đình luôn nặng nề nhưng vì thương con, sợ không được nuôi cả 2 con, sợ đứa con ở với ba sẽ khổ nên không dám ly hôn.
Vậy luật sư cho tôi hỏi trường hợp này bạn tôi có thể giành quyền nuôi 2 con được không? Vì nếu sống như thế này cả bạn tôi và các con cũng sẽ rất khổ khi luôn tục chứng kiến cảnh bố mắng chửi, đánh đập mẹ ?
Xin chân thành cảm ơn!

Người mẹ có được quyền nuôi cả hai con khi ly hôn không ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo quy định trên, vợ chồng có thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con và thỏa thuận này được Tòa án ghi nhận trong Bản án. Nếu hai bên không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con sau khi ky hôn thì Tòa án sẽ quyết định vấn đề này căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và tuân theo nguyên tắc con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng (trừ trường hợp người mẹ không muốn nuôi dưỡng). Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét đến nguyện vọng của con. Vì vậy, để có quyền được nuôi cả hai bé, người vợ cần chứng minh mình có đủ điều kiện và đáp ứng tốt nhất các nhu cầu cũng như sự phát triển của hai bé.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Hướng dẫn giải quyết tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn ?

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

3. Hướng dẫn thủ tục ly hôn theo quy định pháp luật ?

Chào luật sư, Luật sư có thể tư vấn giúp tôi về trường hợp của tôi. Vợ chồng tôi không có nhà riêng, từ quê lên thành phố làm. Lúc tôi có bầu do công việc nên tôi nghỉ sinh sớm. Về quê ở với mẹ tôi, tới nay con tôi được 20 tháng. Chồng tôi vẫn gửi tiền tháng về cho con. Cho tôi hỏi nếu chúng tôi ly hôn tôi có được quyền nuôi con không. Công việc hiện tại của tôi là buôn bán nhỏ ?
Cảm ơn luật sư.

Trả lời:

Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Căn cứ theo quy định trên nếu vợ chồng bạn đều đồng ý ly hôn thì sẽ tiến hành ly hôn theo thủ tục thuận tình được quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình như sau:

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Về quyền nuôi con:

Luật hôn nhân và gia đình quy định:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Căn cứ theo quy định trên, đối với trường hợp con dưới 36 tháng tuổi sẽ giao trực tiếp cho người mẹ nuôi, đối với trường hợp con trên 7 tuổi sẽ hỏi ý kiến và nguyện vọng của con. Trường hợp con trên 36 tháng tuổi và duới 7 tuổi thì sẽ căn cứ vào điều kiện sống, khả năng kinh tế, môi trường giáo dục của mỗi bên... bên nào được tốt hơn thì người đó có quyền nuôi con.

Về tài sản:

Về việc phân chia tài sản sẽ chia theo nguyên tắc sau đây nếu các bên không thỏa thuận về việc chia tài sản chung

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Em chào luật sư, em kết hôn từ năm 2010 gian chung sống với nhau bọn em đã có được một cháu gái 5tuoi.qua thời gian chung sống vợ chồng em đã sảy ra những bất đồng đến tháng tháng 1 năm 2016 vợ em viết đơn ly hôn để lại và mmang con về nhà ngoại ở trong thời gian ly thân em quyết định đồng ý ly hôn nhưng đến giờ vợ em lại không đồng ý không đưa những giấy tờ liên quan đến việc ly hôn hiện tại em đang cầm đơn do vợ em viết và bản kết hôn gốc vậy em phải làm sao để có thể giải quyết được ly hôn trong thời gian ngắn nhất ạ ? Em cảm ơn!

Trả lời:

Do vợ bạn không đồng ý nữa nên trường hợp này bạn sẽ giải quyết theo thủ tục ly hôn đơn phương được quy định tại Điều 56 như sau:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Hồ sơ xin ly hôn đơn phương cần chuẩn bị như sau:

- Đơn yêu cầu/đơn khởi kiện (Theo mẫu);

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- CMND và hộ khẩu;

- Giấy khai sinh các con;

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; Sổ tiết kiệm…

Các bước tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương

- Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND có thẩm quyền;

- Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ trong thời hạn khoảng 7-15 ngày, Tòa án kiểm tra đơn và nếu đầy đủ thì Tòa thông báo nộp tiền tạm ứng án phí;

- Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

- Bước 4: Tòa án sẽ triệu tập lấy lời khai, hòa giải và tiến hành thủ tục theo quy định pháp luật.

- Bước 5: Trong trường hợp, Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn, người yêu cầu ly hôn có quyền kháng cáo để Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Thời gian tòa án giải quyết yêu cầu đơn phương ly hôn:

Ly hôn đơn phương cấp sơ thẩm: khoảng từ 4 đến 6 tháng (nếu có tranh chấp tài sản, phức tạp thì có thể kéo dài hơn).

Ly hôn đơn phương cấp phúc thẩm: khoảng từ 3 đến 4 tháng (nếu có kháng cáo).

Thưa luật sư, Tôi đã có 2 con riêng với chồng thứ nhất sau khi ly hôn tôi kết hôn với chồng thứ 2 hiện nay tôi sinh thêm 1 đứa nữa như vậy có phải vi phạm chính sách dân số do sinh con thứ 3 không?

Trả lời:

Căn cứ theo nghị định 20/2010/NĐ-CP hướng dẫn Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số và nghị định 18/2011/NĐ-CP quy định:

Điều 2. Những trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con

1. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

2. Cặp vợ chồng sinh con lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên.

3. Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên.

4. Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi.

5. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.

6. Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ):

a) Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai người đã có con riêng (con đẻ);

b) Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai người đã có con riêng (con đẻ). Quy định này không áp dụng cho trường hợp hai người đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống

7. Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh.

Căn cứ theo quy định trên, nếu bạn đã có hai con riêng và đã ly hôn mà lấy người khác thì khi bạn sinh con sẽ không vi phạm quy định của pháp luật về dân số.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Quyền nuôi con khi ly hôn và thủ tục ly hôn?

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

4. Tư vấn quyền chia tài sản tặng cho khi ly hôn ?

Thưa luật sư. Vợ chồng anh tôi có cho tặng bố mẹ tôi một mảnh đất (giấy tờ là cho tặng đất) nhưng trên mảnh đất đó có nhà. Nay anh chị tôi ly hôn, chị dâu tôi đòi quyền chia tài sản là ngôi nhà trên mảnh đất đó là đúng hay sai ? Nhà là do bố mẹ tôi xây trước khi anh chị tôi làm thủ tục giấy tờ cho tặng ?
Tôi xin cảm ơn Luật sư!

Luật sư tư vấn:

Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Như vậy, dựa theo nguyên tắc nêu trên thì tài sản là ngôi nhà mà chị dâu bạn đòi chia tài sản khi ly hôn là không thỏa đáng. Bởi lẽ vợ chồng anh chị bạn đã tặng cho mảnh đất cho bố mẹ bạn , nhà ở gắn liền với bất động sản thì đương nhiên chị dâu bạn mất quyền chia tài sản với mảnh đất này khi ly hôn. Mặt khác, phần nhà ở này lại do bố mẹ bạn xây trước khi anh chị bạn làm thủ tục giấy tờ tặng cho mảnh đất nên phần nhà này không thuộc tài sản chung của anh chị bạn, không do anh chị bạn tạo ra theo Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Tài sản chung của vợ chồng có quy định cụ thể như sau :

" 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung." Do đó, chị bạn không có quyền chia ngôi nhà này.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tài sản nào là tài sản chung của hai vợ chồng ?

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Ly hôn khi không chung sống được với chồng ?

Kính gửi công ty luật Minh Khuê. Tôi lấy chồng năm 2013. Hiện chúng tôi đã có 1 con gái 2 tuổi. Chúng tôi kết hôn là do sự sắp đặt của 2 bên gia đình. Tôi thật sự không thể chịu được một người như chồng tôi và tôi không hề muốn tiếp tục cuộc sống như thế nào nữa. Nếu tôi ly hôn thì có được nuôi con không ạ ?
Chân thành cảm ơn.

Tư vấn quyền chia tài sản tặng cho khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo như nội dung thư bạn yêu cầu, cuộc sống hôn nhân của bạn đang không hạnh phúc. Trong trường hợp này nếu mục đích hôn nhân không đạt được thì bạn có thể thực hiện quyền yêu cầu tòa án công nhận thuận tình ly hôn hoặc tiến hành ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Về vấn đề giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng sau khi vợ chồng bạn ly hôn thì sẽ căn cứ vào quy định sau đây của Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Do đó, việc ai trực tiếp nuôi con sẽ phải căn cứ vào điều kiện của các bên và thỏa thuận của vợ chồng bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hôn nhân và gia đình - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?