1. Lịch sử hình thành của mô hình tố tụng tranh tụng

Về mặt lịch sử, nếu như mô hình tố tụng thẩm vấn đã tồn tại được hơn tám thế kỷ thì mô hình tố tụng tranh tụng là mô hình khá mới. Theo các nghiên cứu khoa học pháp lý, sự kiện đem lại sự ra đời của yếu tố tranh tụng đầu tiên trong mô hình tố tụng hình sự là sự ra đời của Đạo luật về phiên tòa xét xử tội phản nghịch (Treason Trials Act) của Vương quốc Anh năm 1696. Đạo luật này lần đầu tiên trao một số quyền tố tụng, trong đó quan trọng nhất là quyền được có luật sư bào chữa cho bị cáo là các chính trị gia cao cấp. Có thể nói, đây là kết quả của quá trình đấu tranh giữa giai cấp tư sản đang lên và Vương triều phong kiến Anh lúc bấy giờ. Đến năm 1730, các quyền tố tụng này được mở rộng ra tới đối tượng thứ dân trong xã hội. Đặc trưng của các phiên xử lúc này là có sự tham gia của các luật sư bào chữa cho bị cáo (tuy còn ở mức độ khiêm tốn). Đến cuối thế kỷ 18, dựa trên học thuyết của John Locke, các luật sư đại diện cho tầng lớp thứ dân của Anh lúc đó đã phát triển việc luật sư tham gia phiên tòa xét xử và tranh luận để tìm công lý thành một quan điểm lý luận chính trị trong số những quan điểm mang tính cách mạng thời kỳ bấy giờ. Kể từ đó, quyền được có luật sư bào chữa của bị cáo ngày càng được tôn trọng, vai trò của luật sư trong các phiên tòa xét xử ngày càng cao với tư cách là người bảo vệ một cách tích cực quyền lợi cho bị cáo. Đến khoảng giữa thế kỷ 19, mô hình phiên tòa xét xử tranh tụng đã bắt đầu được hình thành.
Trong nửa cuối thế kỷ 19, một loạt các quyền tố tụng khác của bị cáo và luật sư bào chữa tiếp tục được bổ sung vào mô hình Ttố tụng hình sự của Anh và các nước thuộc địa. Năm 1848, pháp luật Vương quốc Anh quy định người bị bắt hay tạm giữ có quyền im lặng. Năm 1865, Đạo luật tố tụng hình sự (Criminal Procedure Act) được ban hành và trao cho luật sư bào chữa quyền có lời tranh luận cuối cùng tại phiên tòa xét xử mà trước đó không cần phải trình bằng chứng bào chữa. Đến cuối thế kỷ 19, Đạo luật về chứng cứ của người bị tạm giam, tạm giữ (Prisoners’ Evidence Act) được ban hành và lần đầu tiên trao cho bị cáo quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, khai trong các phiên tòa xử mình. Đến lúc này, mô hình tố tụng hình sự tranh tụng đã được định hình ở các quốc gia thuộc khối thông luật (common law), song mới tập trung vào giai đoạn xét xử tại tòa án. Giai đoạn tiền xét xử khi đó vẫn mang nặng tính điều tra, xét hỏi của mô hình thẩm vấn[6].
Thập kỷ 60 của thế kỷ 20 là giai đoạn chứng kiến sự phát triển mới trong mô hình tranh tụng, cụ thể là tại Hoa Kỳ, lần này với sự bùng nổ các quyền tố tụng của luật sư trong giai đoạn tiền xét xử. Với hàng loạt án lệ, Tòa án tối cao liên bang Hoa Kỳ đã trao cho luật sư những quyền tố tụng quan trọng ở cả cấp bang và liên bang như: quyền được tiếp cận luật sư trong giai đoạn tiền xét xử (vụ Powell v.Alabama năm 1932, vụ Brown v. Mississippi năm 1936 và được mở rộng phạm vi áp dụng tới cấp bang trong giai đoạn giữa thế kỷ 20); quyền tiếp cận luật sư của bị can, bị cáo nghèo (vụ Gideon v. Wainwright năm 1963); quyền tiếp cận luật sư của bị can, bị cáo nghèo trong giai đoạn tiền truy tố (vụ Escobedo v. Illinois năm 1964); việc mở rộng áp dụng tới cấp bang quy định không sử dụng một số bằng chứng vi phạm thủ tục tố tụng (vụ Mapp v. Ohio năm 1961); và nghĩa vụ của cảnh sát phải thông báo cho bị can đầy đủ các quyền tố tụng khi bắt họ (vụ Miranda v Arizona năm 1966). Cho đến thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ 20, các quyền này được du nhập ngược trở lại để áp dụng cho giai đoạn tiền xét xử ở Vương quốc Anh. Có thể nói, kể từ đó, mô hình tố tụng tranh tụng đã được hình thành đầy đủ ở các nước thuộc hệ thống thông luật với đầy đủ các đặc điểm như hiện nay

2. Các mô hình tố tụng hình sự trên thế giới

Trên thế giới hiện nay có hai dạng mô hình tố tụng hình sự cơ bản là: mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn và mô hình tố tụng hình sự tranh tụng
Mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn có nguồn gốc từ La Mã cổ đại, được hình thành từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên bởi Hoàng đế Justinian; sau này được các luật gia Pháp và Đức hoàn thiện và phát triển. Mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn coi trọng kiểm soát và trấn áp tội phạm, đặt lên hàng đầu nhiệm vụ tìm ra chân lý vụ án. Tiến trình giải quyết vụ án hình sự xem nặng phương pháp thẩm vấn. Tại phiên tòa, thẩm phán đặt ra những câu hỏi để kiểm tra, đánh giá chứng cứ, bị cáo và người tham gia tố tụng có nghĩa vụ phải trả lời. Sự thật của vụ án có thể tìm thấy trong quá trình thẩm vấn. Toà án nắm giữ nhiều trách nhiệm trong việc định hướng điều tra, có thiên hướng tìm kiếm chứng cứ buộc tội nhiều hơn là gỡ tội. Chứng cứ được thu thập trước khi mở phiên toà đòi hỏi phải trọn vẹn, nếu không thẩm phán sẽ hoãn phiên toà trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Mô hình tố tụng thẩm vấn có ưu điểm là nhà nước kiểm soát, tránh bỏ lọt tội phạm một cách có hiệu quả nhất.
Chính vì công việc chứng minh tội phạm được nhà nước ủy nhiệm phần lớn cho các cơ quan tư pháp (đặc biệt là Tòa án), với hy vọng họ sẽ nhanh chóng khám phá vụ án, bảo vệ công lý mà không chú trọng đến việc tạo lập cho bị cáo các quyền để họ tự bảo vệ mình, nên dẫn đến một hệ quả tất yếu là các chức năng tố tụng (buộc tội, bào chữa, xét xử) không được phân định rạch ròi, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụng không bình đẳng thực sự, quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự dễ bị xâm hại. Dường như những đặc điểm hạn chế đó của mô hình tố tụng thẩm vấn là không thể tránh khỏi, vì nó tồn tại mang tính quy luật khách quan.
Mô hình tố tụng hình sự tranh tụng được áp dụng ở Hy Lạp cổ đại, sau đó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục” (Procédure des questions perpétuelle). Ở nước Anh, lần đầu tiên thủ tục này xuất hiện vào khoảng thế kỷ 10 - 13, trên cơ sở hai bên đương sự tố cáo ra trước phiên tòa và được pháp luật ghi nhận bình đẳng cho hai bên bằng việc tòa án đóng vai trò là trọng tài quan sát và phân xử. Sau đó, mô hình tố tụng này được phát triển ở các nước như Mỹ, Canada, Úc… và tồn tại cho đến ngày nay.
Nếu như ở mô hình tố tụng thẩm vấn, trách nhiệm chứng minh tội phạm do nhà nước đảm trách để kiểm soát tình hình tội phạm, thì trong mô hình tranh tụng, trách nhiệm đó được chia sẻ cho các bên buộc tội và bên bào chữa. Mọi thông tin thu được trong quá trình điều tra đều chưa được xem xét cho đến khi được trình bày trước toà. Mỗi bên sẽ trình toà “sự thật của mình” và thẩm phán cùng với bồi thẩm đoàn sẽ quyết định xem “sự thật” nào có tính thuyết phục hơn”.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật thuế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

Chính vì vậy mà thẩm phán giữ vai trò trung lập, là người trọng tài trong việc tranh tụng. Tại phiên toà, thẩm phán làm nhiệm vụ điều khiển phiên toà, không tham gia thẩm vấn, điều tra hoặc chỉ tham gia một cách mờ nhạt. Mô hình tranh tụng cho rằng, chân lý vụ án sẽ được mở ra qua sự tranh luận cởi mở, bình đẳng của các chủ thể tại phiên toà. Đó là những cuộc “tranh đấu” trong việc lập luận và đưa ra chứng cứ từ phía buộc tội và phía bào chữa, do đó các phiên toà diễn ra dân chủ, sinh động. Trách nhiệm đưa ra chứng cứ buộc tội thuộc về công tố viên, và bên bào chữa có trách nhiệm chứng minh là mình vô tội. Các chức năng tố tụng cơ bản trong mô hình tranh tụng được phân định rạch ròi, toà án có vị trí trung tâm thực hiện chức năng xét xử. Vì thế mà vị trí và vai trò của thẩm phán, công tố viên và phía bào chữa được bình đẳng trong thực hiện quyền, nghĩa vụ do pháp luật quy định, đặc biệt là quyền đưa ra chứng cứ để chứng minh. Hoạt động xét xử của thẩm phán có tính độc lập cao, không thể bị can thiệp từ phía cơ quan nhà nước khác. Pháp luật cũng hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào lợi ích hợp pháp của công dân nhằm tránh sự xâm hại. Điều đó cho thấy sự tương xứng và bình đẳng trong việc chứng minh tội phạm tại phiên toà; cũng như quyền con người được nhà nước bảo đảm. Qua đó còn cho thấy ưu điểm ở mô hình tranh tụng, đó là sự đánh giá chứng cứ của thẩm phán mang tính khách quan; hình thức tố tụng phải được đáp ứng đầy đủ và coi trọng; tránh được sự xâm hại trái pháp luật và sự lạm quyền từ cán bộ tư pháp.
Tuy nhiên, mô hình tranh tụng bộc lộ hạn chế cơ bản nhất là phía nhà nước gặp khó khăn trong việc kiểm soát tình hình tội phạm, nghĩa là tội phạm có thể bị bỏ lọt. Đồng thời, nhà nước phải tiêu tốn nhiều hơn chi phí tố tụng do phải thiết lập một hệ thống cơ chế giám sát hoạt động tố tụng nhằm kiểm soát những sai phạm từ các hoạt động tố tụng và do phiên tòa trong hệ tranh tụng thường kéo dài vì phải trải qua nhiều phiên tranh tụng.
Mô hình tố tụng hình sự phản ánh cách thức tổ chức hoạt động tố tụng. Chính việc quy định các thủ tục tố tụng hình sự nói chung, thủ tục xét hỏi và tranh luận nói riêng đã làm nên những đặc trưng cơ bản của mô hình tố tụng hình sự. Phiên tòa trong mô hình tố tụng nào thì thể hiện đặc điểm, mục đích của mô hình tố tụng đó. Phiên tòa trong tố tụng thẩm vấn không phải là sự đối tụng nhau giữa hai bên buộc tội và gỡ tội mà là sự tiếp tục điều tra công khai nhằm làm rõ sự thật của thẩm phán. Thậm chí là không bao gồm phần tranh tụng của các bên, hoặc là rất mờ nhạt. Vì lo ngại cơ quan thực thi quyền điều tra, truy tố và người tham gia tố tụng che giấu sự thật nên các thẩm phán sẽ kiểm tra tích cực chứng cứ, kiểm tra nhân chứng, cho dù việc này thuộc về chức năng buộc tội của công tố viên. Vì thế, thẩm phán tại phiên tòa theo hệ thẩm vấn được trao quyền hạn rất lớn. Việc thu thập chứng cứ trước khi xét xử chỉ được giao cho cơ quan điều tra và cơ quan truy tố, phía bị buộc tội và người bào chữa tham gia rất mờ nhạt. Chứng cứ được tập hợp đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Chính vì vậy, phiên tòa thuộc hệ thẩm vấn thường ngắn hơn và kém sinh động, thiếu tính tranh tụng và khó phân biệt rành mạch giữa các chức năng tại phiên tòa; bị cáo thường nhanh chóng nhận tội và chấp nhận hình phạt. Phiên tòa trong tố tụng tranh tụng thì khác, ở đây là một cuộc tranh đấu qua việc tranh luận tự do giữa một bên buộc tội và một bên là người bào chữa và bị cáo. Vai trò của thẩm phán là làm trọng tài phán xét cho cuộc đấu tụng. Bị cáo có quyền được im lặng, việc nhận tội hay không của họ rất được coi trọng, có ý nghĩa quyết định đến quá trình tố tụng tiếp theo. Trong phiên tòa theo hệ tranh tụng, các bên được bình đẳng trong việc thu thập và đưa ra chứng cứ và bị chi phối bởi thủ tục “mặc cả nhận tội” - điều này hoàn toàn khác biệt với phiên tòa theo lối thẩm vấn. Địa vị pháp lý của các chủ thể hoạt động tố tụng như công tố viên, luật sư, thẩm phán, bồi thẩm được chia sẻ quyền lực và có tính đối trọng chứ không nghiêng hẳn về bên nào đó.

3. Xu hướng giao thoa, tiếp nhận các yếu tố tích cực giữa các mô hình tố tụng hình sự

Có thể nói, trong bôì cảnh toàn cầu hóa hiện nay, pháp luật của các quốc gia có xu hướng giảm bớt những yếu tố đặc thù, “xích lại gần nhau” hơn và pháp luật tố tụng hình sự không phải là một ngoại lệ. Nghiên cứu các mô hình tố tụng hình sự, nhiều tác giả cho rằng đến nay, gần như không còn tồn tại mô hình tố tụng hình sự thuần túy là thẩm vấn hay thuần túy là tranh tụng. Trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển, các mô hình tố tụng hình sự đã có sự giao thoa, tiếp nhận những yếu tố tích cực, tiến bộ của nhau để đáp ứng ngày càng cao yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo đảm các quyền con người trong tố tụng hình sự.

Xu hưống giao thoa, tiếp nhận các yếu tố tích cực, tiến bộ giữa các mô hình tố tụng hình sự hướng tói việc xây dựng được mô hình tố tụng hình sự có khả năng giải quyết một cách tối ưu nhiệm vụ tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của cuộc đấu tranh phát hiện và xử lý tội phạm, nhiệm vụ bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản con người trong tố tụng hình sự. Sự giao thoa giữa các mô hình tố tụng hình sự được thực hiện theo hưống kết hợp những yếu tô' tích cực của mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn và mô hình tố tụng hình sự tranh tụng. Mức độ kết hợp theo tỷ lệ như thế nào giữa các yếu tố là do sự lựa chọn của các nhà lập pháp, có tính đến các điều kiện cụ thể về lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội của từng quốc gia.

Quá trình giao thoa những yếu tố tích cực, tiến bộ giữa các mô hình tố tụng hình sự còn cho thấy, mặc dù có tiếp thu những yếu tố tích cực của mô hình tố tụng khác, song các quốc gia vẫn giữ lại những nội dung cơ bản nhất, đặc trưng nhất của mô hình tô' tụng hình sự đang áp dụng, chứ không từ bỏ mô hình tô' tụng hình sự truyền thống của mình để chuyển hẳn sang một mô hình tố tụng hình sự khác. Chỉ có duy nhất trường hợp của Italia vào năm 1989, chuyển đổi một cách máy móc từ mô hình tô' tụng hình sự truyền thống là thẩm vấn sang mô hình tô' tụng tranh tụng. Sau hai năm thực hiện, có nhiều trục trặc, đặc biệt là đối vói các vụ án liên quan đến tổ chức maphia. Khi đưa ra xét xử tại phiên tòa theo thủ tục tô' tụng tranh tụng, vì sợ bị trả thù nên hầu hết lời khai của các nhân chứng mâu thuẫn hoàn toàn vối lòi khai ban đầu của họ bằng văn bản. Do vậy, đến năm 1992, Italia lại quyết định trỏ lại mô hình tô' tụng hình sự truyền thống của mình là tô' tụng thẩm vấn. Cho đến nay, luật pháp Italia cũng như án lệ của Tòa phá án Italia thường xuyên phải chấn chỉnh để xác lập lại thủ tục thẩm vấn.

Theo quan điểm của nhiều luật gia, sự cải cách mang tính cách mạng này chủ yếu diễn ra nhiều hơn ở các nước đang áp dụng mô hình tô' tụng hình sự thẩm vấn. Mô hình này có xu hưống thiên về bên Công tô' và đề cao trách nhiệm của Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, tiếp thu những yếu tô' tích cực của mô hình tô' tụng tranh tụng vốn đề cao tính công bằng, bình đẳng, dân chủ trong các thủ tục tô' tụng hình sự. Thậm chí, một sô' quốc gia như Liên bang Nga hay Nhật Bản đã mạnh dạn trao quyền cho các Bồi thẩm viên là những công dân bình thường có thẩm quyền quyết định việc bị cáo có tội hay vô tội trong những vụ án hình sự nghiêm trọng.

Những biểu hiện cụ thể về thẩm quyền và thủ tục tố tụng cụ thể ở các nưốc trong tiến trình tiếp nhận, tiếp thu các yếu tố" tích cực của các mô hình tô' tụng hình sự cho thấy:

Một là, nhiều nước có xu hướng chuyển giao thẩm quyền ra các quyết định tố tụng ảnh hưỏng trực tiếp đến các quyền tự do cơ bản của công dân như bắt, giam giữ từ Cơ quan công tô' sang cho Tòa án; tạo cơ hội để bên bị buộc tội tham gia tích cực vào quá trình tô' tụng, tăng cường tính độc lập của Tòa án, hạn chế vai trò tích cực và chủ động của Tòa án, Thẩm phán.

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại

Hai là, để phù hợp vối truyền thông, điều kiện và hoàn cảnh của từng quốc gia, một sô' nưóc vẫn duy trì nguyên tắc truy tô'bắt buộc (ví dụ: Liên bang Nga, Trung Quốc); trong khi một sô' nưóc khác lại áp dụng nguyên tắc tùy nghi truy tô' trong mô hình tô' tụng tranh tụng (ví dụ: Nhật Bản, Hàn Quốc). Điều này có nghĩa là, mặc dù hành vi của người bị tình nghi đã có đầy đủ các yếu tô' cấu thành tội phạm nhưng Cơ quan công tô' có quyền quyết định không truy tô' người bị tình nghi đó ra trưốc Tòa án. Họ căn cứ vào một sô' điều kiện nhất định như: độ tuổi, hoàn cảnh, điều kiện gia đình, môi trường sông, các tình tiết dẫn đến sự việc phạm tội... để tạo điều kiện cho người đó có cơ hội tái hòa nhập vối xã hội và áp dụng các biện pháp quản lý, giám sát khác chứ không nhất thiết phải xử lý bằng biện pháp hình sự.

Ba là, trong quá trình giao thoa, tiếp nhận các yếu tô' tích cực của mô hình tô' tụng hình sự tranh tụng, các quốc gia có xu hưống rút ngắn các thòi hạn tố tụng nói chung và đặc biệt là các thời hạn liên quan đến áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam; bổ sung các biện pháp thay thế biện pháp tạm giam có tính nhân văn như: cam kết với Tòa án về việc xử sự đúng mực; bảo lãnh cá nhân; giám sát tư pháp; giam giữ tại gia; giám sát điện tủ; cấm gặp gỡ hay hên lạc với một số đôì tượng nhất định...

Bô'n là, đặc điểm nổi bật nhất của các quốc gia thuộc mô hình tố tụng đan xen là tăng thẩm quyền của Cơ quan công tố/ kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đặt nặng trách nhiệm chứng minh cho bên Công tố chứ không phải là Cảnh sát. Liên bang Nga vẫn duy trì cơ chế điều tra dự thẩm và Kiểm sát viên có quyền trực tiếp điều tra một số tội phạm nhất định. Trung Quốc có Tổng cục chống tham ô, hối lộ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Công tố viên của Nhật Bản và Hàn Quốc đều có thẩm quyền trực tiếp điều tra khi xét thấy cần thiết, nhất là đôì vối những vụ án nghiêm trọng hoặc liên quan đến các quan chức cao cấp phạm tội. Các Cơ quan điều tra khác có trách nhiệm trợ giúp và tuân thủ những yêu cầu điều tra do Công tố viên/Kiểm sát viên đê' ra trong quá trình điều tra các loại án này.

4. Vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự tại Liên bang Nga

Nghiên cứu về mô hình tố tụng hình sự Liên bang Nga, có thể nói, không có hệ thống tố tụng hình sự hiện đại nào hoàn toàn là tranh tụng hay hoàn toàn là thẩm vấn mà đúng hơn là các hệ thống nằm đâu đó ỗ khoảng giữa hai mô hình thuần túy này. Liên bang Nga là một ví dụ điển hình cho nhận xét đó. Điều 123 (3) của Hiến pháp Liên bang Nga khẳng định “các thủ tục tố tụng sẽ được thực hiện dựa trên nguyên tắc tranh tụng và công bằng giữa các bên”. Điều 15 Bộ luật tô' tụng hình sự Liên bang Nga năm 2001 nêu ra các nguyên tắc áp dụng đối với các vụ án hình sự. “Các nguyên tắc tranh tụng” và “các quyền bình đẳng của các bên” là các khái niệm có những giải thích và định nghĩa theo hệ thống châu Âu lục địa, đa dạng hóa đáng kể, đưa nưốc Nga tiến đến gần hơn với mô hình tố tụng tranh tụng kiểu Anh - Mỹ.

Sự thay đổi này trở nên rõ ràng khi so sánh những giải thích cũ và mới về các chức năng của Tòa án, Cơ quan điều tra và công tố. Tòa án không phải là một Cơ quan công tố hình sự và sẽ không làm chức năng công tố hoặc gỡ tội trong một vụ án. Tòa án sẽ tạo ra các điều kiện cần thiết cho các bên thực hiện các nghĩa vụ tố tụng và các quyền được trao cho họ. Thậm chí, trước khi Bộ luật mổi được thông qua, Tòa án Hiến pháp, dựa trên Hiến pháp Liên bang Nga đã quyết định rằng, một Tòa án “có thể không tự thực hiện các chức năng tô' tụng đặc biệt của các bên”. Điều này giải thích các nguyên tắc tranh tụng theo hưống tách biệt nghiêm ngặt giữa chức năng của Tòa án trong việc giải quyết vụ án vối chức năng công tô' và gỡ tội.

Quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại Liên bang Nga thể hiện thông qua quy định Luật sư phải có mặt, trừ khi bị từ chối. Nếu lời khai của một nghi can hay một bị can, giốhg như lòi khai của một nhân chứng được gọi là một dạng chứng cứ, thì các nghi can hay bị can không phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu đưa ra nội dung lời khai gian dối để làm chứng cứ. Trước khi buổi thẩm vấn bắt đầu, Điều tra viên hình sự có nghĩa vụ giải thích một số quyền bao gồm quyền “không đưa ra bất kỳ giải thích hay nội dung khai báo nào liên quan đến một cáo buộc hay nghi ngờ”. Có thể nói, một trong các quyền quan trọng nhất của một nghi can hay của một bị can là quyền có Luật sư. Luật sư không chỉ đưa ra định hướng hay tư vấn pháp lý mà còn là người đại diện chuyên nghiệp của nghi can hay bị can, làm giảm đi sự mất cân bằng về vị trí tô' tụng, đồng thời khuyến khích họ sử dụng các quyền của mình.

Trong quá trình điều tra, nhìn chung, ở Liên bang Nga Luật sư không được phép tham gia điều tra, ngoại trừ các hoạt động có sự tham dự của bị can (ví dụ, thực nghiệm hiện trường) hoặc có yêu cầu của bị can (ví dụ, thẩm vấn một nhân chứng gỡ tội). Trừ khi Luật sư bào chữa có thể thuyết phục được Điều tra viên (hay Thẩm phán trong trường hợp sự từ chối bị kháng cáo) cho phép mình tham dự buổi thẩm vấn một nhân chứng, thường thì, chỉ duy nhất một Điều tra viên hình sự sẽ có mặt trong buổi hỏi cung. Luật sư bào chữa có thể có mặt khi bị can đưa ra lời khai trước Điều tra viên, có cơ hội tiếp cận nội dung hồ sơ vụ án và có “ý kiến bằng văn bản đối với độ chính xác và đầy đủ nội dung của một biên bản chính thức thể hiện một hoạt động điểu tra cụ thể”. Tuy nhiên, rất khó cho một Luật sư khi đánh giá và đặt câu hỏi về “độ chính xác và đầy đủ” trong một biên bản lời khai nhân chứng một khi Luật sư không tham dự nghe nhân chứng trình bày trong quá trình thẩm vấn. Đối vối các biên bản hoạt động tố tụng khác cũng có vấn đề tương tự như vậy.

Một số Luật sư đã cố gắng đề nghị Điều tra viên hoặc người giám định cung cấp những nội dung ghi chép của họ trong quá trình lập các tài liệu đó. Mặc dù vậy, đề nghị này thường bị từ chối với lý do là các tài liệu điều tra chưa được coi là chứng cứ. Việc tiếp cận không đầy đủ hồ sơ tài liệu của người giám định làm căn cứ kết luận tạo ra rất nhiều khó khăn để đánh giá kết luận đó có đúng đắn không. Trong khi Bộ luật tố tụng hình sự đòi hỏi người giám định phải trình bày trong bản kết luận của mình, nhưng thực tế chỉ những nội dung và kết luận giám định rõ ràng mới được cung cấp. Tuy nhiên, hiện nay, Công tố viên có nhiều khả năng hơn trong việc triệu tập người giám định tham dự phiên tòa với tư cách là nhân chứng (mặc dù họ không bị đòi hỏi phải làm như vậy). Điều này tạo cho phía Luật sư nhiều cơ hội để chứng minh các lập luận phía sau các kết luận giám định.

Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga năm 2001 đã luật hóa phán quyết của Tòa án Hiến pháp bằng việc quy định quyền có Luật sư bào chữa bắt đầu khi một người bị bắt trên thực tế hoặc “kể từ thời điểm bất kỳ một biện pháp tô" tụng ngán chặn hay hoạt động tố tụng nào được áp dụng đối với các quyền và sự tự do của người bị nghi ngờ thực hiện một tội phạm”. Quy định này chỉ rõ: “thời điểm bắt giữ thực tế là thời điểm người bị bắt bị tước đoạt quyền tự do đi lại trên thực tế”. Bộ luật này cũng đưa ra các định nghĩa thế nào là quyền tiếp cận Luật sư trong giai đoạn ngay trước khi buổi thẩm vấn đầu tiên được tiến hành bởi Điều tra viên. Các định nghĩa nêu rõ một nghi can “có quyền có một buổi gặp riêng với Luật sư” và một bị can (người đã bị cáo buộc về một tội phạm) có quyền “gặp riêng Luật sư không giối hạn về số lần và thời gian gặp mặt”. Điều 92 (4) Bộ luật này quy định mỗi lần nghi can được gặp Luật sư trong thời gian có thể hơn 02 giờ, thậm chí trong trường hợp nghi can cần thiết tham dự một hoạt động điều tra.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến qua điện thoại

5. Vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự tại Nhật Bản

Nghiên cứu về Nhật Bản cho thấy hệ thông tư pháp hình sự của Nhật Bản chịu ảnh hưởng khá lốn bởi hệ thống thông luật và truyền thốhg “Khổng giáo” của Trung Quốc, song đồng thời vẫn giữ lại đậm nét bản sắc của Nhật Bản. Trong suốt 250 năm bị cô lập vói thế giối bên ngoài, hệ thống tư pháp Nhật Bản bị chi phôi bởi những môì quan hệ của chế độ phong kiến. Cùng vói sự mở cửa Nhật Bản vào năm 1853 và trong thời kỳ Minh Trị Duy Tân, Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự của Pháp là những đạo luật có ảnh hưởng lớn tới pháp luật hình sự của Nhật Bản. Sau đó là Bộ luật dân sự của Đức đã được chỉnh sửa lại cho phù hợp để sử dụng tại Nhật Bản. Như vậy, lịch sử phát triển của pháp luật tố tụng hình sự tại Nhật Bản đã thể hiện sự độc đáo của quá trình tiếp nhận quy định của pháp luật nước ngoài tại nưốc này.

Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Nhật Bản là Bộ luật chỉ thị hình sự năm 1880. Bộ luật này chủ yếu dựa trên Bộ luật tố tụng hình sự năm 1808 của Pháp, song có một số quy định được lấy từ luật của Đức. Kể từ khi hệ thốhg Tòa án và các quy trình tố tụng do Bộ luật này quy định thể hiện là quá cồng kềnh, nó đã nhanh chóng được thay thế bỏi một bộ luật theo mô hình của Đức. Những thay đổi căn bản trong hệ thống tố tụng hình sự Nhật Bản xảy ra sau khi kết thúc Chiến tranh thế giói thứ hai theo sáng kiến của Tư lệnh tối cao các nước Đồng minh. Vối sự hỗ trợ của các cố vấn Hoa Kỳ, Bộ luật tố tụng hình sự mối đã được các học giả, Thẩm phán, Luật sư và các quan chức Nhật Bản soạn thảo và được ban hành vào năm 1948, chịu nhiều ảnh hưởng của mô hình tố tụng hình sự Hoa Kỳ. Tuy nhiên, mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã hình thành một quy trình tố tụng mang tính tranh tụng nhiều hơn là xét hỏi, song có những thủ tục tồn tại trước Chiến tranh vẫn tiếp tục được duy trì. Đặc biệt, trong quá trình điểu tra trưóc khi xét xử cũng như việc dựa vào các văn bản tài liệu khi xét xử - là các hồ sơ do cảnh sát và các Công tố viên chuẩn bị, Thẩm phán tham gia tích cực vào việc thẩm vấn trong giai đoạn xét xử và Công tố viên vẫn tiếp tục tiến hành điều tra chi tiết cả hai bên trong vụ án trước khi xét xử.

ở Nhật Bản, quan điểm chung cho rằng, nếu không có cáo buộc thì sẽ không có quy trình tố” tụng. Thẩm phán không biết trước các bằng chứng cho đến khi bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra tranh luận với nhau, nhằm tránh tình trạng Thẩm phán hình thành quan điểm trưốc khi xét xử. Xét xử công khai được dựa trên cơ sở hoạt động buộc tội và gỡ tội, dưới hình thức yêu cầu xin kiểm tra chứng cứ, lời khai, các tài liệu tương tự và bản án thường được tuyên dựa trên các cuộc tranh luận bằng lời nói. Vối tư cách là một bên tham gia tố tụng, bị cáo không chỉ có quyền chọn Luật sư bào chữa mà còn có quyền thực thi các hoạt động tố tụng khác nhau, bao gồm nộp đơn xin kiểm tra bằng chứng, khai báo hoặc phản đôì, kháng cáo cấp phúc thẩm. Hơn nữa, bị cáo không có nghĩa vụ khai báo và có thể giữ im lặng trong suốt thời gian xét xử hoặc từ chối trả lời các câu hỏi được đặt ra.

Mọi bị cáo đều có quyền được trợ giúp về mặt pháp lý bởi Luật sư do chính mình lựa chọn. Trong một số trường hợp, bị cáo không được tự do lựa chọn việc mình có muốh được trợ giúp pháp lý hay không mà việc trợ giúp đó là bắt buộc. Nhiệm vụ của Luật sư bào chữa là hành động vì quyền lợi thân chủ của mình bằng cách giám sát tính hợp pháp của quá trình tố tụng và thực hiện mọi biện pháp hợp pháp để đạt được kết quả tốt nhất có thể. Luật sư bào chữa phải tuân thủ quy tắc đạo đức nghê' nghiệp do Liên hội Luật sư Nhật Bản và các Hội luật sư địa phương ban hành. Người bị cáo buộc thực hiện hành vi phạm tội, vào mọi thời điểm, cho dù còn là người bị tình nghi phạm tội hoặc đã trở thành bị cáo, được quyền tham khảo ý kiến riêng với Luật sư của mình.

Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định về quyền tiếp xúc với bị can, bị cáo. Theo đó, người bào chữa có thể tiếp xúc với bị can hay bị cáo mà không cần có người chứng kiến, hoặc có thể trao, nhận giấy tờ hay chứng cứ. Điều 76 Bộ luật tô' tụng hình sự quy định thông báo vê' sự việc truy tô', về quyền thuê người bào chữa sau khi đã áp giải tối Cơ quan điều tra, hoặc được chỉ định trong trường hợp khó khăn hoặc vì lý do khác mà tự mình không thể thuê được người bào chữa. Điều 78 Bộ luật này quy định bị cáo bị áp giải hoặc bị tạm giam có thể đê' xuất với Tòa án hoặc phụ trách trại giam hoặc Luật sư đại diện, tổ chức hành nghê' luật sư, hoặc Hội Luật sư chỉ định người bào chữa (không giối hạn khi bị cáo đã có người bào chữa). Tòa án, Trưởng trại giam hoặc người đại diện khi nhận được yêu cầu nêu trên, phải thông báo ngay tới Luật sư, tổ chức hành nghê' và Hội Luật sư mà bị cáo đã chỉ định...

Từ những thông tin tổng quan vê' vị trí, vai trò của Luật sư trong các mô hình tô' tụng hình sự của một sô' nước trên thê' giới cho thấy, chủ trương cải cách tư pháp hình sự, trong đó có việc xây dựng mô hình tô' tụng hình sự phù hợp với điều kiện lịch sử và cấu trúc tổ chức bộ máy nhà nước của Việt Nam được coi là một trong những nội dung quan trọng của cải cách tư pháp theo Nghị quyết sô' 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị khóa IX về “Một sô' nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Đó cũng là những kinh nghiệm quý giúp cho nưốc ta trong việc xây dựng và hoàn thiện chế định bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự trong tô tụng hình sự.

>> Xem thêm:  Số điện thoại luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự như thế nào?

Trả lời:

Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định.

Câu hỏi: Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân như thế nào?

Trả lời:

Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản.

Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật.

Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.

Câu hỏi: Khi nào được suy đoán vô tội?

Trả lời:

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.