- 1. Lịch sử hình thành của mô hình tố tụng tranh tụng
- 2. Các mô hình tố tụng hình sự trên thế giới
- 3. Xu hướng giao thoa, tiếp nhận các yếu tố tích cực giữa các mô hình tố tụng hình sự
- 4. Vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự tại Liên bang Nga
- 5. Vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự tại Nhật Bản
1. Lịch sử hình thành của mô hình tố tụng tranh tụng
2. Các mô hình tố tụng hình sự trên thế giới
3. Xu hướng giao thoa, tiếp nhận các yếu tố tích cực giữa các mô hình tố tụng hình sự
Có thể nói, trong bôì cảnh toàn cầu hóa hiện nay, pháp luật của các quốc gia có xu hướng giảm bớt những yếu tố đặc thù, “xích lại gần nhau” hơn và pháp luật tố tụng hình sự không phải là một ngoại lệ. Nghiên cứu các mô hình tố tụng hình sự, nhiều tác giả cho rằng đến nay, gần như không còn tồn tại mô hình tố tụng hình sự thuần túy là thẩm vấn hay thuần túy là tranh tụng. Trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển, các mô hình tố tụng hình sự đã có sự giao thoa, tiếp nhận những yếu tố tích cực, tiến bộ của nhau để đáp ứng ngày càng cao yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo đảm các quyền con người trong tố tụng hình sự.
Xu hưống giao thoa, tiếp nhận các yếu tố tích cực, tiến bộ giữa các mô hình tố tụng hình sự hướng tói việc xây dựng được mô hình tố tụng hình sự có khả năng giải quyết một cách tối ưu nhiệm vụ tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của cuộc đấu tranh phát hiện và xử lý tội phạm, nhiệm vụ bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản con người trong tố tụng hình sự. Sự giao thoa giữa các mô hình tố tụng hình sự được thực hiện theo hưống kết hợp những yếu tô' tích cực của mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn và mô hình tố tụng hình sự tranh tụng. Mức độ kết hợp theo tỷ lệ như thế nào giữa các yếu tố là do sự lựa chọn của các nhà lập pháp, có tính đến các điều kiện cụ thể về lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội của từng quốc gia.
Quá trình giao thoa những yếu tố tích cực, tiến bộ giữa các mô hình tố tụng hình sự còn cho thấy, mặc dù có tiếp thu những yếu tố tích cực của mô hình tố tụng khác, song các quốc gia vẫn giữ lại những nội dung cơ bản nhất, đặc trưng nhất của mô hình tô' tụng hình sự đang áp dụng, chứ không từ bỏ mô hình tô' tụng hình sự truyền thống của mình để chuyển hẳn sang một mô hình tố tụng hình sự khác. Chỉ có duy nhất trường hợp của Italia vào năm 1989, chuyển đổi một cách máy móc từ mô hình tô' tụng hình sự truyền thống là thẩm vấn sang mô hình tô' tụng tranh tụng. Sau hai năm thực hiện, có nhiều trục trặc, đặc biệt là đối vói các vụ án liên quan đến tổ chức maphia. Khi đưa ra xét xử tại phiên tòa theo thủ tục tô' tụng tranh tụng, vì sợ bị trả thù nên hầu hết lời khai của các nhân chứng mâu thuẫn hoàn toàn vối lòi khai ban đầu của họ bằng văn bản. Do vậy, đến năm 1992, Italia lại quyết định trỏ lại mô hình tô' tụng hình sự truyền thống của mình là tô' tụng thẩm vấn. Cho đến nay, luật pháp Italia cũng như án lệ của Tòa phá án Italia thường xuyên phải chấn chỉnh để xác lập lại thủ tục thẩm vấn.
Theo quan điểm của nhiều luật gia, sự cải cách mang tính cách mạng này chủ yếu diễn ra nhiều hơn ở các nước đang áp dụng mô hình tô' tụng hình sự thẩm vấn. Mô hình này có xu hưống thiên về bên Công tô' và đề cao trách nhiệm của Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, tiếp thu những yếu tô' tích cực của mô hình tô' tụng tranh tụng vốn đề cao tính công bằng, bình đẳng, dân chủ trong các thủ tục tô' tụng hình sự. Thậm chí, một sô' quốc gia như Liên bang Nga hay Nhật Bản đã mạnh dạn trao quyền cho các Bồi thẩm viên là những công dân bình thường có thẩm quyền quyết định việc bị cáo có tội hay vô tội trong những vụ án hình sự nghiêm trọng.
Những biểu hiện cụ thể về thẩm quyền và thủ tục tố tụng cụ thể ở các nưốc trong tiến trình tiếp nhận, tiếp thu các yếu tố" tích cực của các mô hình tô' tụng hình sự cho thấy:
Một là, nhiều nước có xu hướng chuyển giao thẩm quyền ra các quyết định tố tụng ảnh hưỏng trực tiếp đến các quyền tự do cơ bản của công dân như bắt, giam giữ từ Cơ quan công tô' sang cho Tòa án; tạo cơ hội để bên bị buộc tội tham gia tích cực vào quá trình tô' tụng, tăng cường tính độc lập của Tòa án, hạn chế vai trò tích cực và chủ động của Tòa án, Thẩm phán.
Hai là, để phù hợp vối truyền thông, điều kiện và hoàn cảnh của từng quốc gia, một sô' nưóc vẫn duy trì nguyên tắc truy tô'bắt buộc (ví dụ: Liên bang Nga, Trung Quốc); trong khi một sô' nưóc khác lại áp dụng nguyên tắc tùy nghi truy tô' trong mô hình tô' tụng tranh tụng (ví dụ: Nhật Bản, Hàn Quốc). Điều này có nghĩa là, mặc dù hành vi của người bị tình nghi đã có đầy đủ các yếu tô' cấu thành tội phạm nhưng Cơ quan công tô' có quyền quyết định không truy tô' người bị tình nghi đó ra trưốc Tòa án. Họ căn cứ vào một sô' điều kiện nhất định như: độ tuổi, hoàn cảnh, điều kiện gia đình, môi trường sông, các tình tiết dẫn đến sự việc phạm tội... để tạo điều kiện cho người đó có cơ hội tái hòa nhập vối xã hội và áp dụng các biện pháp quản lý, giám sát khác chứ không nhất thiết phải xử lý bằng biện pháp hình sự.
Ba là, trong quá trình giao thoa, tiếp nhận các yếu tô' tích cực của mô hình tô' tụng hình sự tranh tụng, các quốc gia có xu hưống rút ngắn các thòi hạn tố tụng nói chung và đặc biệt là các thời hạn liên quan đến áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam; bổ sung các biện pháp thay thế biện pháp tạm giam có tính nhân văn như: cam kết với Tòa án về việc xử sự đúng mực; bảo lãnh cá nhân; giám sát tư pháp; giam giữ tại gia; giám sát điện tủ; cấm gặp gỡ hay hên lạc với một số đôì tượng nhất định...
Bô'n là, đặc điểm nổi bật nhất của các quốc gia thuộc mô hình tố tụng đan xen là tăng thẩm quyền của Cơ quan công tố/ kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đặt nặng trách nhiệm chứng minh cho bên Công tố chứ không phải là Cảnh sát. Liên bang Nga vẫn duy trì cơ chế điều tra dự thẩm và Kiểm sát viên có quyền trực tiếp điều tra một số tội phạm nhất định. Trung Quốc có Tổng cục chống tham ô, hối lộ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Công tố viên của Nhật Bản và Hàn Quốc đều có thẩm quyền trực tiếp điều tra khi xét thấy cần thiết, nhất là đôì vối những vụ án nghiêm trọng hoặc liên quan đến các quan chức cao cấp phạm tội. Các Cơ quan điều tra khác có trách nhiệm trợ giúp và tuân thủ những yêu cầu điều tra do Công tố viên/Kiểm sát viên đê' ra trong quá trình điều tra các loại án này.
4. Vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự tại Liên bang Nga
Nghiên cứu về mô hình tố tụng hình sự Liên bang Nga, có thể nói, không có hệ thống tố tụng hình sự hiện đại nào hoàn toàn là tranh tụng hay hoàn toàn là thẩm vấn mà đúng hơn là các hệ thống nằm đâu đó ỗ khoảng giữa hai mô hình thuần túy này. Liên bang Nga là một ví dụ điển hình cho nhận xét đó. Điều 123 (3) của Hiến pháp Liên bang Nga khẳng định “các thủ tục tố tụng sẽ được thực hiện dựa trên nguyên tắc tranh tụng và công bằng giữa các bên”. Điều 15 Bộ luật tô' tụng hình sự Liên bang Nga năm 2001 nêu ra các nguyên tắc áp dụng đối với các vụ án hình sự. “Các nguyên tắc tranh tụng” và “các quyền bình đẳng của các bên” là các khái niệm có những giải thích và định nghĩa theo hệ thống châu Âu lục địa, đa dạng hóa đáng kể, đưa nưốc Nga tiến đến gần hơn với mô hình tố tụng tranh tụng kiểu Anh - Mỹ.
Sự thay đổi này trở nên rõ ràng khi so sánh những giải thích cũ và mới về các chức năng của Tòa án, Cơ quan điều tra và công tố. Tòa án không phải là một Cơ quan công tố hình sự và sẽ không làm chức năng công tố hoặc gỡ tội trong một vụ án. Tòa án sẽ tạo ra các điều kiện cần thiết cho các bên thực hiện các nghĩa vụ tố tụng và các quyền được trao cho họ. Thậm chí, trước khi Bộ luật mổi được thông qua, Tòa án Hiến pháp, dựa trên Hiến pháp Liên bang Nga đã quyết định rằng, một Tòa án “có thể không tự thực hiện các chức năng tô' tụng đặc biệt của các bên”. Điều này giải thích các nguyên tắc tranh tụng theo hưống tách biệt nghiêm ngặt giữa chức năng của Tòa án trong việc giải quyết vụ án vối chức năng công tô' và gỡ tội.
Quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại Liên bang Nga thể hiện thông qua quy định Luật sư phải có mặt, trừ khi bị từ chối. Nếu lời khai của một nghi can hay một bị can, giốhg như lòi khai của một nhân chứng được gọi là một dạng chứng cứ, thì các nghi can hay bị can không phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu đưa ra nội dung lời khai gian dối để làm chứng cứ. Trước khi buổi thẩm vấn bắt đầu, Điều tra viên hình sự có nghĩa vụ giải thích một số quyền bao gồm quyền “không đưa ra bất kỳ giải thích hay nội dung khai báo nào liên quan đến một cáo buộc hay nghi ngờ”. Có thể nói, một trong các quyền quan trọng nhất của một nghi can hay của một bị can là quyền có Luật sư. Luật sư không chỉ đưa ra định hướng hay tư vấn pháp lý mà còn là người đại diện chuyên nghiệp của nghi can hay bị can, làm giảm đi sự mất cân bằng về vị trí tô' tụng, đồng thời khuyến khích họ sử dụng các quyền của mình.
Trong quá trình điều tra, nhìn chung, ở Liên bang Nga Luật sư không được phép tham gia điều tra, ngoại trừ các hoạt động có sự tham dự của bị can (ví dụ, thực nghiệm hiện trường) hoặc có yêu cầu của bị can (ví dụ, thẩm vấn một nhân chứng gỡ tội). Trừ khi Luật sư bào chữa có thể thuyết phục được Điều tra viên (hay Thẩm phán trong trường hợp sự từ chối bị kháng cáo) cho phép mình tham dự buổi thẩm vấn một nhân chứng, thường thì, chỉ duy nhất một Điều tra viên hình sự sẽ có mặt trong buổi hỏi cung. Luật sư bào chữa có thể có mặt khi bị can đưa ra lời khai trước Điều tra viên, có cơ hội tiếp cận nội dung hồ sơ vụ án và có “ý kiến bằng văn bản đối với độ chính xác và đầy đủ nội dung của một biên bản chính thức thể hiện một hoạt động điểu tra cụ thể”. Tuy nhiên, rất khó cho một Luật sư khi đánh giá và đặt câu hỏi về “độ chính xác và đầy đủ” trong một biên bản lời khai nhân chứng một khi Luật sư không tham dự nghe nhân chứng trình bày trong quá trình thẩm vấn. Đối vối các biên bản hoạt động tố tụng khác cũng có vấn đề tương tự như vậy.
Một số Luật sư đã cố gắng đề nghị Điều tra viên hoặc người giám định cung cấp những nội dung ghi chép của họ trong quá trình lập các tài liệu đó. Mặc dù vậy, đề nghị này thường bị từ chối với lý do là các tài liệu điều tra chưa được coi là chứng cứ. Việc tiếp cận không đầy đủ hồ sơ tài liệu của người giám định làm căn cứ kết luận tạo ra rất nhiều khó khăn để đánh giá kết luận đó có đúng đắn không. Trong khi Bộ luật tố tụng hình sự đòi hỏi người giám định phải trình bày trong bản kết luận của mình, nhưng thực tế chỉ những nội dung và kết luận giám định rõ ràng mới được cung cấp. Tuy nhiên, hiện nay, Công tố viên có nhiều khả năng hơn trong việc triệu tập người giám định tham dự phiên tòa với tư cách là nhân chứng (mặc dù họ không bị đòi hỏi phải làm như vậy). Điều này tạo cho phía Luật sư nhiều cơ hội để chứng minh các lập luận phía sau các kết luận giám định.
Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga năm 2001 đã luật hóa phán quyết của Tòa án Hiến pháp bằng việc quy định quyền có Luật sư bào chữa bắt đầu khi một người bị bắt trên thực tế hoặc “kể từ thời điểm bất kỳ một biện pháp tô" tụng ngán chặn hay hoạt động tố tụng nào được áp dụng đối với các quyền và sự tự do của người bị nghi ngờ thực hiện một tội phạm”. Quy định này chỉ rõ: “thời điểm bắt giữ thực tế là thời điểm người bị bắt bị tước đoạt quyền tự do đi lại trên thực tế”. Bộ luật này cũng đưa ra các định nghĩa thế nào là quyền tiếp cận Luật sư trong giai đoạn ngay trước khi buổi thẩm vấn đầu tiên được tiến hành bởi Điều tra viên. Các định nghĩa nêu rõ một nghi can “có quyền có một buổi gặp riêng với Luật sư” và một bị can (người đã bị cáo buộc về một tội phạm) có quyền “gặp riêng Luật sư không giối hạn về số lần và thời gian gặp mặt”. Điều 92 (4) Bộ luật này quy định mỗi lần nghi can được gặp Luật sư trong thời gian có thể hơn 02 giờ, thậm chí trong trường hợp nghi can cần thiết tham dự một hoạt động điều tra.
5. Vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự tại Nhật Bản
Nghiên cứu về Nhật Bản cho thấy hệ thông tư pháp hình sự của Nhật Bản chịu ảnh hưởng khá lốn bởi hệ thống thông luật và truyền thốhg “Khổng giáo” của Trung Quốc, song đồng thời vẫn giữ lại đậm nét bản sắc của Nhật Bản. Trong suốt 250 năm bị cô lập vói thế giối bên ngoài, hệ thống tư pháp Nhật Bản bị chi phôi bởi những môì quan hệ của chế độ phong kiến. Cùng vói sự mở cửa Nhật Bản vào năm 1853 và trong thời kỳ Minh Trị Duy Tân, Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự của Pháp là những đạo luật có ảnh hưởng lớn tới pháp luật hình sự của Nhật Bản. Sau đó là Bộ luật dân sự của Đức đã được chỉnh sửa lại cho phù hợp để sử dụng tại Nhật Bản. Như vậy, lịch sử phát triển của pháp luật tố tụng hình sự tại Nhật Bản đã thể hiện sự độc đáo của quá trình tiếp nhận quy định của pháp luật nước ngoài tại nưốc này.
Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Nhật Bản là Bộ luật chỉ thị hình sự năm 1880. Bộ luật này chủ yếu dựa trên Bộ luật tố tụng hình sự năm 1808 của Pháp, song có một số quy định được lấy từ luật của Đức. Kể từ khi hệ thốhg Tòa án và các quy trình tố tụng do Bộ luật này quy định thể hiện là quá cồng kềnh, nó đã nhanh chóng được thay thế bỏi một bộ luật theo mô hình của Đức. Những thay đổi căn bản trong hệ thống tố tụng hình sự Nhật Bản xảy ra sau khi kết thúc Chiến tranh thế giói thứ hai theo sáng kiến của Tư lệnh tối cao các nước Đồng minh. Vối sự hỗ trợ của các cố vấn Hoa Kỳ, Bộ luật tố tụng hình sự mối đã được các học giả, Thẩm phán, Luật sư và các quan chức Nhật Bản soạn thảo và được ban hành vào năm 1948, chịu nhiều ảnh hưởng của mô hình tố tụng hình sự Hoa Kỳ. Tuy nhiên, mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã hình thành một quy trình tố tụng mang tính tranh tụng nhiều hơn là xét hỏi, song có những thủ tục tồn tại trước Chiến tranh vẫn tiếp tục được duy trì. Đặc biệt, trong quá trình điểu tra trưóc khi xét xử cũng như việc dựa vào các văn bản tài liệu khi xét xử - là các hồ sơ do cảnh sát và các Công tố viên chuẩn bị, Thẩm phán tham gia tích cực vào việc thẩm vấn trong giai đoạn xét xử và Công tố viên vẫn tiếp tục tiến hành điều tra chi tiết cả hai bên trong vụ án trước khi xét xử.
ở Nhật Bản, quan điểm chung cho rằng, nếu không có cáo buộc thì sẽ không có quy trình tố” tụng. Thẩm phán không biết trước các bằng chứng cho đến khi bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra tranh luận với nhau, nhằm tránh tình trạng Thẩm phán hình thành quan điểm trưốc khi xét xử. Xét xử công khai được dựa trên cơ sở hoạt động buộc tội và gỡ tội, dưới hình thức yêu cầu xin kiểm tra chứng cứ, lời khai, các tài liệu tương tự và bản án thường được tuyên dựa trên các cuộc tranh luận bằng lời nói. Vối tư cách là một bên tham gia tố tụng, bị cáo không chỉ có quyền chọn Luật sư bào chữa mà còn có quyền thực thi các hoạt động tố tụng khác nhau, bao gồm nộp đơn xin kiểm tra bằng chứng, khai báo hoặc phản đôì, kháng cáo cấp phúc thẩm. Hơn nữa, bị cáo không có nghĩa vụ khai báo và có thể giữ im lặng trong suốt thời gian xét xử hoặc từ chối trả lời các câu hỏi được đặt ra.
Mọi bị cáo đều có quyền được trợ giúp về mặt pháp lý bởi Luật sư do chính mình lựa chọn. Trong một số trường hợp, bị cáo không được tự do lựa chọn việc mình có muốh được trợ giúp pháp lý hay không mà việc trợ giúp đó là bắt buộc. Nhiệm vụ của Luật sư bào chữa là hành động vì quyền lợi thân chủ của mình bằng cách giám sát tính hợp pháp của quá trình tố tụng và thực hiện mọi biện pháp hợp pháp để đạt được kết quả tốt nhất có thể. Luật sư bào chữa phải tuân thủ quy tắc đạo đức nghê' nghiệp do Liên hội Luật sư Nhật Bản và các Hội luật sư địa phương ban hành. Người bị cáo buộc thực hiện hành vi phạm tội, vào mọi thời điểm, cho dù còn là người bị tình nghi phạm tội hoặc đã trở thành bị cáo, được quyền tham khảo ý kiến riêng với Luật sư của mình.
Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định về quyền tiếp xúc với bị can, bị cáo. Theo đó, người bào chữa có thể tiếp xúc với bị can hay bị cáo mà không cần có người chứng kiến, hoặc có thể trao, nhận giấy tờ hay chứng cứ. Điều 76 Bộ luật tô' tụng hình sự quy định thông báo vê' sự việc truy tô', về quyền thuê người bào chữa sau khi đã áp giải tối Cơ quan điều tra, hoặc được chỉ định trong trường hợp khó khăn hoặc vì lý do khác mà tự mình không thể thuê được người bào chữa. Điều 78 Bộ luật này quy định bị cáo bị áp giải hoặc bị tạm giam có thể đê' xuất với Tòa án hoặc phụ trách trại giam hoặc Luật sư đại diện, tổ chức hành nghê' luật sư, hoặc Hội Luật sư chỉ định người bào chữa (không giối hạn khi bị cáo đã có người bào chữa). Tòa án, Trưởng trại giam hoặc người đại diện khi nhận được yêu cầu nêu trên, phải thông báo ngay tới Luật sư, tổ chức hành nghê' và Hội Luật sư mà bị cáo đã chỉ định...
Từ những thông tin tổng quan vê' vị trí, vai trò của Luật sư trong các mô hình tô' tụng hình sự của một sô' nước trên thê' giới cho thấy, chủ trương cải cách tư pháp hình sự, trong đó có việc xây dựng mô hình tô' tụng hình sự phù hợp với điều kiện lịch sử và cấu trúc tổ chức bộ máy nhà nước của Việt Nam được coi là một trong những nội dung quan trọng của cải cách tư pháp theo Nghị quyết sô' 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị khóa IX về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Đó cũng là những kinh nghiệm quý giúp cho nưốc ta trong việc xây dựng và hoàn thiện chế định bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự trong tô tụng hình sự.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & tổng hợp)