Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển, các giao dịch dân sự, đặc biệt là thế chấp tài sản ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, một vấn đề pháp lý phức tạp và đầy thách thức đã nảy sinh trong thực tiễn xét xử, đó là việc xử lý công cụ, phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp. Sự việc này gây ra một cuộc xung đột giữa hai lĩnh vực là pháp luật hình sự và pháp luật dân sự. Do đó, việc tìm ra một cơ chế giải quyết hài hòa, vừa đảm bảo công lý hình sự, vừa bảo vệ quyền lợi dân sự chính đáng là một vấn đề cấp bách cần được phân tích và làm rõ.

1. Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội được hiểu như thế nào? 

Vật chứng là những vật có liên quan đến vụ án hình sự, được dùng để chứng minh tội phạm và người phạm tội, đồng thời có thể giúp xác định tình tiết của vụ án, làm rõ hành vi phạm tội, mức độ thiệt hại và vai trò các đối tượng liên quan. 

Theo quy định tại Điều 89 Bộ luật Tố Tụng Hình sự 2015 về vật chứng như sau:

Điều 89. Vật chứng

Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án

 Tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố Tụng Hình sự 2015, quy định cụ thể về xử lý vật chứng:

Điều 106. Xử lý vật chứng 

...

2. Vật chứng được xử lý như sau: 

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy

Từ các quy định trên ta có thể hiểu rằng, vật chứng giữ vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh hành vi phạm tội, xác định rõ người phạm tội và làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án hình sự. Đặc biệt, đối với những vật chứng là công cụ, phương tiện để sử dụng làm hành vi phạm tội ( như xe, điện thoại, vũ khí, máy móc,....) - pháp luật đã có quy định rõ ràng về xử lý sau khi vụ án kết thúc. Theo đó, những vật chứng này có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, thuộc quyền sở hữu của người phạm tội hoặc thuộc loại vật bị pháp luật cấm lưu hành, thì có thể bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy, nhằm loại bỏ khả năng tiếp tục sử dụng với mục đích vi phạm pháp luật.

Việc xử lý vật chứng không chỉ nhằm mục tiêu trừng trị cá nhân cụ thể, mà còn thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình xử lý, cơ quan tiến hành tố tụng cũng cần xem xét toàn diện về nguồn gốc tài sản, quyền lợi của bên thứ ba liên quan đến vật chứng, cũng như mức độ cần thiết trong việc sử dụng vật chứng để chứng minh tội phạm, từ đó đảm bảo việc xử lý vừa đúng pháp luật, vừa bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.

2. Xử lý công cụ, phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp như thế nào?

Việc xử lý công cụ, phương tiện phạm tội là tài sản đang thế chấp đặt ra nhiều vấn đề pháp lý phức tạp, do mâu thuẫn giữa quyền xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự và quyền bảo đảm của bên nhận thế chấp trong quan hệ dân sự, tín dụng.

2.1. Tài sản thế chấp là gì?

Tại Điều 317 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định:

Điều 317. Thế chấp tài sản

1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên thế chấp)

2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho bên thứ ba giữ tài sản thế chấp.

Tóm lại, Tài sản thế chấp là tài sản thuộc quyền sở hữu của người vay, nhưng được dùng làm đảm bảo cho nghĩa vụ dân sự. Trong thời gian thế chấp, người thế chấp vẫn giữ nguyên chiếm hữu, sử dụng tài sản, nhưng không được bán, tặng cho, chuyển nhượng nếu không được sự đồng ý của bên nhận thế chấp.

Tài sản thế chấp là tài sản thuộc sở hữu của người thế chấp, nhưng quyền sở hữu bị hạn chế để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng là bên nhận thế chấp, có quyền ưu tiên xử lý tài sản này nếu bên thế chấp không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán.

Trong quan hệ dân sự, bên nhận thế chấp không được quyền chiếm hữu tài sản hay sử dụng tài sản tùy ý, mà chỉ có quyền xử lý tài sản để thu hồi nợ trong trường hợp bên thế chấp vi phạm nghĩa vụ.

2.2. Khi tài sản thế chấp trở thành phương tiện, công cụ phạm tội thì xử lý như thế nào?

Giải quyết các vụ án hình sự trong thực tế cho thấy, việc xử lý vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội khi tài sản đang thế chấp đang là vấn đề pháp lý phức tạp liên quan đến việc xử lý vật chứng là phương tiện phạm tội, đồng thời phải đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của bên thế chấp.Nếu tịch thu toàn bộ tài sản và sung công quỹ Nhà nước sẽ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhận thế chấp. Ngược lại, nếu trả lại tài sản thì lại không đúng theo quy định của pháp luật.Pháp luật hiện hành không quy định cơ chế hoàn trả tài sản bị tịch thu cho bên nhận thế chấp, nhưng vẫn mở ra con đường bảo vệ quyền lợi thông qua thủ tục khởi kiện bằng vụ án dân sự để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Cụ thể theo căn cứ như sau: 

Theo quy định tại khoản 9 Điều 21 Nghị định 21/2021/NĐ-CP về biến động tài sản bảo đảm như sau:

Điều 21. Biến động về tài sản bảo đảm

...

9. Trường hợp tài sản bảo đảm bị tiêu hủy, bị tổn thất hoặc bị phá dỡ, bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được xác định là không còn tài sản bảo đảm, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4,5,7 và 8 Điều này

Khi một tài sản thế chấp bị tiêu hủy, tổn thất toàn bộ, phá dỡ hoặc quan trọng hơn là bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nó sẽ được xác định là không còn tài sản bảo đảm. Điều này có nghĩa là, từ góc độ pháp luật dân sự và giao dịch bảo đảm, tài sản đó không còn tồn tại với tư cách là vật bảo đảm cho khoản vay nữa.

Theo đó, căn cứ theo khoản 3 Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP về quy định về xử lý tài sản bảo đảm như sau:

Điều 49. Quy định chung về xử lý tài sản bảo đảm

...

3. Trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định tài sản đang dùng để bảo đảm phải xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì tài sản này được xử lý theo quy định đó.

Kết hợp các quy định này, có thể thấy rõ một hệ thống pháp luật chặt chẽ, trong đó các quy định hình sự về xử lý tang vật được ưu tiên áp dụng, và sau đó quyền lợi dân sự của bên nhận thế chấp mới được xem xét giải quyết.

Ngoài ra, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.

Điều 47. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm 

1. Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với:

a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

Như vậy, điều này chứng minh một nguyên tắc quan trọng: tính ưu việt của luật hình sự so với luật dân sự trong trường hợp tài sản thế chấp trở thành công cụ, phương tiện phạm tội. Dù đã được thế chấp hợp pháp, tài sản vẫn phải tuân thủ việc tịch thu của cơ quan nhà nước, và quyền lợi của chủ nợ sẽ được giải quyết sau theo các quy định khác (thường là khởi kiện dân sự người vay). 

Theo khoản 1.1 Mục 1 Công văn 2160/VKSTC-V14 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao như sau:

1. Xử lý như thế nào đối với phương tiện, công cụ phạm tội trong 02 trường hợp: (1) phương tiện, công cụ phạm tội là tài sản của người phạm tội đang thế chấp tại ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng; (2) phương tiện, công cụ phạm tội là tài sản được hình thành từ nguồn vốn tài sản chung của vợ chồng?

Trả lời:

1.1. Theo quy định tại khoản 9 Điều 21 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: “Trường hợp tài sản bảo đảm bị tiêu hủy, bị tổn thất toàn bộ hoặc bị phá dỡ, bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được xác định là không còn tài sản bảo đảm…”. Và quy định tại khoản 3 Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP nêu trên thì “Trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định tài sản đang dùng để bảo đảm phải xử lý để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì tài sản này được xử lý theo quy định đó”. Như vậy, trường hợp bị can sử dụng tài sản đang thế chấp tại ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng vào việc phạm tội thì việc xử lý tài sản thực hiện theo quy định Điều 47 BLHS năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tức là bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy. Quyền lợi của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng được giải quyết theo quy định về khởi kiện vụ án dân sự.

1.2. Khoản 3 Điều 47 BLHS năm 2015 quy định: “Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu”. Do vậy, trường hợp phương tiện, công cụ phạm tội được hình thành từ nguồn vốn tài sản chung của vợ chồng thì tùy từng trường hợp, nếu xác định được vợ/chồng có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm (như biết rõ mà vẫn đồng ý hoặc cho phép) thì phương tiện, công cụ phạm tội đó có thể bị tịch thu toàn bộ; nếu xác định vợ/chồng không có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm (như không biết việc chồng/vợ sử dụng vào việc phạm tội sử dụng vào việc phạm tội) thì có thể không tịch thu phần giá trị tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng.

Nói tóm lại, theo các căn cứ nêu trên thì khi tài sản bảo đảm bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nó được xác định là không còn tồn tại với tư cách là tài sản bảo đảm. Đồng nghĩa với việc quyền xử lý tài sản của nơi nhận thế chấp bị chấm dứt. Mục đích của việc tịch thu tài sản này là để tước bỏ phương diện gây án, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật hình sự. Do đó, quyền lợi của ngân hàng sẽ được chuyển sang con đường khác đó là khởi kiện vụ án dân sự đối với người phạm tội.

3. Ví dụ minh họa 

Tình huống: Ông A mua một chiếc xe tải trị giá 1 tỷ đồng và vay ngân hàng B 800 triệu đồng, thế chấp chính chiếc xe này. Hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản và đăng ký đầy đủ theo đúng quy định pháp luật tại cơ quan có thẩm quyền. Sau đó, ông A sử dụng chiếc xe tải này để vận chuyển một lô ma túy lớn. Ngay lập tức, cơ quan công an phát hiện, bắt giữ ông A và tạm giữ chiếc xe tải để phục vụ điều tra.

Ngân hàng B, khi biết tin, đã gửi văn bản đến cơ quan công an và Viện kiểm sát để yêu cầu được xử lý tài sản thế chấp, nhưng yêu cầu này không được chấp thuận vì chiếc xe đang là vật chứng của vụ án hình sự.

Tòa án tuyên bố ông A có tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Tại bản án, Tòa án xác định chiếc xe tải là phương tiện phạm tội và ra quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước theo quy định pháp luật.

Chiếc xe tải bị tịch thu và ngân hàng B không còn quyền xử lý tài sản này theo Nghị định 21/2021/NĐ-CP, chiếc xe được xác định là không còn tài sản bảo đảm.

Ngân hàng B mất tài sản bảo đảm và không thể thu hồi khoản nợ 800 triệu đồng bằng cách xử lý chiếc xe. Ngân hàng B chỉ còn một con đường duy nhất là khởi kiện dân sự đối với ông A .

4. Kết luận 

Việc xử lý công cụ, phương tiện phạm tội là tài sản thế chấp là một vấn đề pháp lý phức tạp, thể hiện sự xung đột giữa luật hình sự và dân sự . Mặc dù hợp đồng thế chấp được pháp luật dân sự bảo vệ, nhưng khi tài sản đó được sử dụng vào mục đích phạm pháp, nguyên tắc ưu tiên của pháp luật hình sự sẽ được áp dụng.Theo đó, tài sản sẽ bị tịch thu sung công quỹ nhà nước theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyền lợi của ngân hàng đối với tài sản bảo đảm sẽ chấm dứt. Ngân hàng không được phép xử lý tài sản để thu hồi nợ, mà chỉ có thể khởi kiện dân sự đối với người phạm tội.

Mọi thắc mắc quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến số Hotline1900.6162 để gặp luật sư tư vấn trực tiếp giải đáp các thắc mắc. Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Xin chân thành cảm ơn!