1. Xử phạt doanh nghiệp thanh lý tài sản thông đồng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán để tẩu tán?

Dựa vào quy định của Điều 80, Nghị định 82/2020/NĐ-CP, vi phạm các quy định về hoạt động của doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản sẽ bị xử phạt theo các điều khoản 3 và 4 như sau:

Phạt Tiền:

Hành vi thông đồng, móc nối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán hoặc cá nhân, tổ chức khác để tẩu tán tài sản hoặc làm sai lệch các nội dung liên quan đến hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Biện pháp khắc phục hậu quả:

Để khắc phục hậu quả, người vi phạm phải buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp mà họ có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm a và c khoản 2, khoản 3 Điều này.

Đồng thời, theo quy định tại khoản 4 và 5 Điều 4 của Nghị định 82/2020/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với cá nhân và tổ chức sẽ được áp dụng như sau:

- Mức phạt tiền quy định tại các Chương II, III, IV, V, VI và VII của Nghị định này áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, trừ các điều quy định tại khoản 5 Điều này. Trong trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính giống như cá nhân, mức phạt tiền sẽ là gấp đôi mức phạt đối với cá nhân.

- Mức phạt tiền quy định tại các Điều 7, 8, 9, 16, 17, 24, 26, 29, 33, 39, 50, 53, 63, 71, 72, 73, 74 và 80 của Nghị định này là mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức.

Tóm lại, theo quy định trên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính nếu thực hiện hành vi vi phạm, cụ thể là phạt tiền và buộc nộp lại lợi ích bất hợp pháp.

 

2. Thẩm quyền quyền xử phạt doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thông đồng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán để tẩu tán tài sản

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 88 của Nghị định 82/2020/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định thuộc Chương II, Chương III, Chương IV, các Điều 78, 79 và 80, cũng như Chương VII của Nghị định này.

Theo khoản 3 của Điều 83 trong Nghị định 82/2020/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền thực hiện các biện pháp xử phạt sau đây:

- Phạt Cảnh Cáo:

Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình.

- Phạt Tiền:

+ Đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình.

+ Đến 40.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

+ Đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp.

- Biện Pháp Khác:

+ Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ thừa phát lại, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Nghị định này.

Do đó, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản thông đồng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán để tẩu tán tài sản sẽ chịu mức phạt vi phạm hành chính cao nhất là 20.000.000 đồng, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm của doanh nghiệp này.

 

3. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thông đồng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán để tẩu tán tài sản

Theo quy định của điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, được sửa đổi bởi điểm a khoản 4 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020, thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ những trường hợp sau đây:

- Vi phạm hành chính liên quan đến kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

- Vi phạm hành chính về thuế sẽ tuân theo thời hiệu xử phạt theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Do đó, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản, khi thông đồng với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán để tẩu tán tài sản, là 01 năm.

 

4. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Trước hết, cần hoàn thiện các quy định liên quan đến tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Quy định về tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, theo Điều 64 của Luật Phá sản năm 2014, đã trải qua các sửa đổi và bổ sung so với phiên bản trước đó, Luật Phá sản năm 2004. Tuy nhiên, cần tiếp tục bổ sung quy định về những loại tài sản được miễn trừ khỏi quy định về tài sản phá sản.

Điều đáng chú ý là hiện tại, Luật Phá sản năm 2014 không cung cấp một danh mục rõ ràng về các tài sản nằm trong phạm vi loại trừ khỏi tài sản phá sản. Trong khi đó, từ góc độ nhân đạo, nhiều quốc gia trên thế giới đã cho phép cá nhân nợ (bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh) giữ lại một số tài sản, đặc biệt là những vật dụng cần thiết hàng ngày và các khoản hỗ trợ dành cho nợ nhân do tình trạng không thể lao động, bệnh tật, hoặc mất việc làm; cũng như tiền lương hưu, các khoản đền bù từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ,... miễn là họ không vi phạm pháp luật hoặc tham gia vào các hành vi gian lận trong quá trình quản lý và điều hành doanh nghiệp. Vì lẽ đó, cần phải bổ sung quy định về những loại tài sản không bị ảnh hưởng trong trường hợp phá sản, nhằm bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và đồng thời thể hiện tinh thần nhân đạo của quốc gia.

Thứ hai, cần hoàn thiện các quy định về phương thức quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Một trong những điểm cần được tập trung là quy trình kiểm kê và xác định giá trị của tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp phá sản. Điều 65, Khoản 4 của Luật Phá sản năm 2014 đề cập đến việc kiểm kê và xác định tài sản, nhưng nó không cung cấp các hướng dẫn chi tiết về cách đánh giá sự "không chính xác" trong quá trình kiểm kê và mức độ sai số kỹ thuật nào được coi là không đáng kể. Quan trọng hơn, quy định về định giá tài sản cần được thông tin rõ ràng hơn, với các tiêu chí và hướng dẫn cụ thể, thay vì chỉ áp dụng theo giá thị trường tại thời điểm kiểm kê mà không có các quy định chi tiết.

Một vấn đề khác đáng chú ý là thiếu rõ ràng trong việc quy định về trả nợ đối với chủ nợ chính là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo Luật Phá sản năm 2014. Sự mơ hồ này gây ra trì hoãn trong quá trình thu hồi tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đối với các khoản nợ khó đòi. Cần thiết lập quy định rõ ràng và chi tiết hơn về quá trình trả nợ, đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu sự trễ trở này và tăng cường tính minh bạch trong quản lý tài sản của doanh nghiệp phá sản.

Thứ ba, việc hoàn thiện quy định về quản lý tài sản đòi hỏi sự tập trung vào việc xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của quản tài viên tại Việt Nam. Mục tiêu của nghiên cứu này là tăng cường năng lực và phẩm chất của quản tài viên, đồng thời đáp ứng đầy đủ yêu cầu đặc thù của hoạt động quản lý tài sản. Thông qua việc thiết lập Bộ quy tắc ứng xử này, chúng ta có thể tạo điều kiện cho chủ thể này trở nên chủ động hơn trong công việc, từ đó đóng góp vào việc biến hoạt động quản lý tài sản thành một lĩnh vực chuyên nghiệp, đảm bảo sự nhanh chóng về thời gian và đầy đủ về thông tin tài sản.

Thứ tư, cũng cần thực hiện một cuộc rà soát kỹ lưỡng đối với các đạo luật có liên quan đến thanh lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Quá trình này nhằm mục đích sửa đổi và bổ sung những điều khoản một cách đồng bộ và thống nhất. Điều này sẽ giúp tạo ra một cơ sở pháp lý mạnh mẽ hơn, hỗ trợ quản lý tài sản trong trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn về thanh toán. Đồng thời, việc thực hiện các điều chỉnh này sẽ nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của quá trình thanh lý tài sản, góp phần tối ưu hóa quản lý trong tình hình khó khăn kinh tế.

Bài viết liên quan: Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có chắc chắn bị tuyên bố phá sản không?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!