1. Tìm hiểu về bệnh truyền nhiễm

Phân loại bệnh truyền nhiễm là quá trình nhóm các bệnh dựa trên các đặc điểm riêng của chúng. Theo Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12, các bệnh truyền nhiễm được chia thành các nhóm A, B và C dựa trên mức độ nguy hiểm và khả năng lây truyền. Dưới đây là một số thông tin chi tiết về mỗi nhóm bệnh truyền nhiễm.

- Bệnh truyền nhiễm nhóm A: Bệnh truyền nhiễm nhóm A bao gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và có tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh. Các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A bao gồm bệnh bại liệt, cúm A-H5N1, dịch hạch, đậu mùa, sốt xuất huyết do vi rút Ê-bô-la, Lát-sa hoặc Mác-bớc gây ra, bệnh sốt Tây sông Nile, bệnh sốt vàng, bệnh tả, viêm đường hô hấp cấp nặng do vi rút và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới phát sinh và chưa rõ tác nhân gây bệnh. Đặc biệt, vào ngày 29 tháng 01 năm 2020, Bộ Y tế đã quyết định bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (2019-nCov) vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định tại Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm năm 2007.

- Bệnh truyền nhiễm nhóm B: Bệnh truyền nhiễm nhóm B là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có khả năng lây truyền nhanh và có thể gây tử vong. Một số bệnh truyền nhiễm nhóm B bao gồm bệnh do vi rút A-đê-nô, bệnh do vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), bệnh bạch hầu, cúm, dại, ho gà, lao phổi, bệnh do liên cầu lợn ở người, lỵ A-míp, lỵ trực trùng, quai bị, sốt Dengue, sốt xuất huyết Dengue, sốt rét, sốt phát ban, bệnh sởi, tay-chân-miệng, bệnh than, bệnh thủy đậu, thương hàn, uốn ván, bệnh Ru-bê-ôn, viêm gan vi rút, viêm màng não do não mô cầu, viêm não vi rút, bệnh xoắn khuẩn vàng da, tiêu chảy do vi rút Rô-ta và nhiều bệnh truyền nhiễm khác.

- Bệnh truyền nhiễm nhóm C: Bệnh truyền nhiễm nhóm C bao gồm các bệnh ít nguy hiểm và có khả năng lây truyền không nhanh. Một số bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm C bao gồm bệnh Chlamydia, giang mai, bệnh do giun, bệnh lậu, bệnh mắt hột, bệnh do nấm Candida albicans, bệnh Nocardia, bệnh phong, bệnh do vi rút Cytomegalo, bệnh do vi rút Herpes, bệnh sán dây, sán lá gan, sán lá phổi, sán lá ruột, bệnh sốt mò, sốt do Rích-két-si-a, sốt xuất huyết do vi rút Hanta, bệnh do Trichomonas, bệnh viêm da mụn mủ truyền nhiễm, viêm họng, viêm miệng, viêm tim do vi rút Coxsackie, viêm ruột do Giardia, viêm ruột do Vibrio Parahaemolyticus và nhiều bệnh truyền nhiễm khác.

Phân loại bệnh truyền nhiễm nhóm A, B và C giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tính chất và mức độ nguy hiểm của từng loại bệnh. Việc phân loại này cũng hỗ trợ trong việc xác định các biện pháp phòng chống và điều trị phù hợp cho từng loại bệnh, đồng thời giúp quản lý và kiểm soát dịch bệnh truyền nhiễm hiệu quả. Tuy nhiên, việc phân loại bệnh truyền nhiễm chỉ là một phần trong cả hệ thống phòng chống bệnh truyền nhiễm toàn diện, và việc duy trì các biện pháp vệ sinh cá nhân, tiêm chủng, cách ly và giám sát sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng.

 

2. Thẩm quyền xử phạt của chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với người che giấu khi phát hiện người khác mắc bệnh truyền nhiễm?

Theo quy định tại Điều 112 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện được phân định thẩm quyền xử phạt khi phát hiện người khác mắc bệnh truyền nhiễm và người đó có hành vi che giấu thông tin. Theo quy định này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, xử phạt hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 103 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi điểm b khoản 27 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP, quy định về quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền thực hiện các hình thức xử phạt hành chính, bao gồm phạt cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

- Về mức phạt tiền, theo khoản 6 Điều 4 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, sửa đổi bởi khoản 4 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP, quy định về thẩm quyền phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân là mức phạt tiền đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, trong khi thẩm quyền phạt tiền tổ chức là gấp đôi thẩm quyền phạt tiền cá nhân.

- Do đó, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xử phạt người che giấu thông tin khi phát hiện người khác mắc bệnh truyền nhiễm. Mức phạt tiền cao nhất có thể áp dụng là 25.000.000 đồng đối với cá nhân và 50.000.000 đồng đối với tổ chức, tùy thuộc vào vi phạm hành chính cụ thể và quy định của pháp luật.

 

3. Quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với người che giấu khi phát hiện người khác mắc bệnh truyền nhiễm ?

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với người che giấu thông tin khi phát hiện người khác mắc bệnh truyền nhiễm là 01 năm, theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 4 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020.

- Theo quy định này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng theo nguyên tắc chung là 01 năm. Tuy nhiên, có một số trường hợp được quy định thời hiệu xử phạt dài hơn. Đối với vi phạm hành chính liên quan đến kế toán, hóa đơn, phí, lệ phí, kinh doanh bảo hiểm, quản lý giá, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, thủy sản, lâm nghiệp, điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước, hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác, bảo vệ môi trường, năng lượng nguyên tử, quản lý, phát triển nhà và công sở, đất đai, đê điều, báo chí, xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả, quản lý lao động ngoài nước, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được kéo dài lên 02 năm.

- Tuy vậy, đối với vi phạm hành chính về thuế, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính sẽ tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Vì vậy, trong trường hợp người che giấu thông tin khi phát hiện người khác mắc bệnh truyền nhiễm, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính sẽ là 01 năm.

 

4. Che giấu khi phát hiện người khác mắc bệnh truyền nhiễm thì có thể bị phạt đến 20 triệu đồng đúng không?

Theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 7 Nghị định 117/2020/NĐ-CP về vi phạm quy định về giám sát bệnh truyền nhiễm, hành vi che giấu khi phát hiện người khác mắc bệnh truyền nhiễm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Mức phạt tiền được quy định từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.

- Tuy nhiên, nếu người che giấu khi phát hiện người khác mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, thì người này sẽ đối mặt với mức phạt nghiêm khắc hơn. Theo quy định, hành vi che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời hiện trạng bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A của bản thân hoặc của người khác mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Ngoài ra, cố ý khai báo thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A cũng sẽ bị xử phạt tương tự.

- Vì vậy, người che giấu khi phát hiện người khác mắc bệnh truyền nhiễm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, nếu bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A và người che giấu có hành vi nghiêm trọng như khai báo sai thông tin hoặc làm lây lan bệnh, thì mức phạt có thể tăng lên từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Xem thêm >>> Bệnh truyền nhiễm là gì? Các bệnh truyền nhiễm thường gặp?

Nếu quý khách có bất kỳ thắc mắc hay vấn đề nào liên quan đến bài viết hoặc các vấn đề pháp lý, chúng tôi luôn sẵn lòng hỗ trợ và giải quyết. Để đảm bảo rằng quý khách nhận được sự hỗ trợ tốt nhất, chúng tôi khuyến nghị quý khách liên hệ với tổng đài tư vấn pháp luật thông qua số điện thoại 1900.6162 hoặc gửi email đến địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn.