1. Thời điểm hợp đồng vận chuyển hành khách được ký kết

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 10/2020/NĐ - CP quy định thì đối với hoạt động kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng có một số điều cần được đặc tả chi tiết như sau. Đối với việc kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng đặt ra một loạt các yêu cầu và điều kiện.

Đầu tiên thì theo quy định rằng quá trình kinh doanh này phải dựa trên việc thiết lập và thực hiện hợp đồng vận chuyển. Theo đó thì để bắt đầu quá trình vận chuyển, các đơn vị kinh doanh vận tải hành khách phải tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng trước. Điều này đặt ra yêu cầu về sự hiểu biết về các điều kiện quy định và cam kết liên quan đến dịch vụ vận tải.

Hợp đồng vận chuyển này không chỉ giới hạn ở việc vận chuyển hành khách mà còn bao gồm thuê cả chuyến xe, trong đó có việc thuê người lái xe được tính đến. Điều này nhằm mở rộng phạm vi của hợp đồng và yêu cầu sự minh bạch và rõ ràng về các điều khoản liên quan đến việc thuê người lái xe nhằm đảm bảo tính quyền lợi và trách nhiệm của cả hai bên.

Theo quy định hiện hành thì quá trình lập và thực hiện hợp đồng vận chuyển đối với dịch vụ vận tải hành khách giữa doanh nghiệp vận tải và bên thuê vận tải đòi hỏi phải thông qua quá trình đàm phán và ký kết hợp đồng trước khi bước vào giai đoạn thực hiện chuyến vận chuyển. Điều này áp đặt việc xác định điều kiện quy định và cam kết từ cả hai bên đồng thời đảm bảo rằng cả doanh nghiệp vận tải và bên thuê vận tải đều đã đồng thuận về các điều kiện cụ thể bao gồm cả việc thuê cả chuyến xe và người lái xe.

QUy trình này không chỉ giúp tạo ra sự minh bạch và minh họa trong quá trình giao dịch mà còn đặt ra những kỳ vọng rõ ràng và trách nhiệm từ cả hai phía nhằm đảm bảo rằng mọi bước tiến trong quá trình vận chuyển được thực hiện đúng theo những gì đã được thảo luận và đồng thuận trước đó. Điều này đồng nghĩa việc với mỗi bên đều có trách nhiệm duy trì và tuân thủ nghiêm túc các điều khoản đã được thỏa thuận từ việc cung cấp dịch vụ vận tải chất lượng đến việc thanh toán phí và các điều kiện tài chính khác có liên quan.

Hợp đồng vận chuyển phải được đàm phán và ký kết khi thực hiện vận chuyển giữa đơn vị kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng với người thuê vận tải có nhu cầu thuê cả chuyến xe.

 

2. Người lái xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng có bắt buộc mang theo hợp đồng vận chuyển không?

Theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị định 10/2020/NĐ - CP về kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng thì các quy tắc cần tuân thủ khi thực hiện hoạt động kinh doanh này như sau:

Kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng là một quá trình phức tạp và yêu cầu sự tuân thủ  nghiêm ngặt của các quy định. Khi tiến hành vận chuyển hành khách, lái xe không chỉ phải đảm bảo sự tuân thủ các giấy tờ theo quy định của Luật giao thông đường bộ mà còn phải thực hiện một loạt các quy định khác nhau.

Đầu tiên là lái xe phải mang theo hợp đồng vận chuyển đó là một văn bản giấy được ký kết bởi đơn vị kinh doanh vận tải. Tuy nhiên thì có một ngoại lệ đó là trong trường hợp được quy định tại điểm c khoản 4 Điều 7 Nghị định 10/2020/NĐ - CP.

Thứ hai là lái xe cần mang theo danh sách hành khách và danh sách này phải được xác nhận bằng dấu  của đơn vị kinh doanh vận tải. Cũng giống như với hợp đồng thì có một số trường hợp đặc biệt được miễn khỏi yêu cầu này như quy định tại điểm c khoản 4 Điều 7 Nghị định 10/2020/NĐ - CP.

Thứ ba là trong trường hợp sử dụng hợp đồng điện tử thì lái xe phải được trang bị thiết bị có khả năng truy cập nội dung của hợp đồng điện tử và danh sách hành khách kèm theo do đơn vị kinh doanh vận tải cung cấp.

Cuối cùng là đáng chú ý đến là việc lái xe sẽ không phải tuân theo quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 4 Điều 7 Nghị định 10/2020/NĐ - CP quy định trong trường hợp thực hiện hợp đồng vận chuyển phục vụ cho các sự kiện đặc biệt như đám tang hoặc đám cưới. Điều này là nhằm để bảo đảm tính linh hoạt và tiện lợi trong các tình huống đặc biệt nhất định.

Theo quy định hiện hành thì lái xe chở khách theo cam kết hợp đồng làm việc phải có trong tay hợp đồng vận chuyển trừ khi họ đang thực hiện nhiệm vụ đặc biệt như chở khách tham gia đám tang hoặc đám cưới. Trong những trường hợp thông thường thì việc mang theo hợp đồng vận chuyển là bắt buộc và đó là một quy định cơ bản đảm bảo tính chính xác và tính minh bạch trong các giao dịch vận tải hành khách.

 

3. Xử phạt không có hợp đồng vận tải, danh sách hành khách

Dựa theo quy định tại Điều 23 Nghị định 100/2019/NĐ - CP về việc xử phạt người điều khiển các loại xe vận chuyển hành khách vi phạm các quy định về vận tải đường bộ chúng ta có thể nhận thấy rằng có một số hành vi bị xử phạt với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Trong số các hành vi này có những trường hợp như điều khiển xe vận chuyển khách du lịch hoặc xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng mà không có hoặc không mang theo danh sách hành khách theo quy định.

Ngoài ra, còn có  trường hợp vận chuyển hành khách theo tuyến cố định mà không có hoặc không mang theo Lệnh vận chuyển hoặc có mang theo Lệnh vận chuyển nhưng không ghi đầy đủ thông tin, không có xác nhận của bến xe khách nơi đi, bến xe khách nơi đến theo quy định hiện hành. Điều này áp dụng đặc biệt đối với xe kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng vận chuyển học sinh, sinh viên, cán bộ công nhân viên đi học, đi làm việc.

Điều này thể hiện rõ sự nghiêm túc và quyết liệt của pháp luật trong việc duy trì trật tự và an toàn trong lĩnh vực vận tải đường bộ, tăng cường sự quản lý đối với các hoạt động vận chuyển hành khách và ngăn chặn những hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật. Các mức phạt được áp đặt nhằm đảm bảo tuân thủ và giữ gìn an ninh giao thông đồng thời bảo vệ quyền lợi và an toàn của hành khách.

Ngoài ra thì theo quy định tại khoản 8 Điều 23 Nghị định 100/2019/NĐ - CP được sửa đổi bởi điểm d khoản 12 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ - CP quy định về việc xử phạt người điều khiển ô tô chở hành khách, ô tô chở người và các loại xe tương tự xe ô tô chở hành khách, chở người vi phạm theo quy định về vận tải đường bộ hiện hành, ngoài việc xác định rằng người lái xe sẽ phải chịu một loạt các biện pháp kỷ luật khi vi phạm các quy tắc giao thông còn có hình thức bổ sung tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe. Theo quy định cụ thể trong trường hợp vi phạm liên quan đến việc không có danh sách hành khách trên xe chạy theo hợp đồng thì người lái xe sẽ phải đối mặt với quyền sử dụng Giấy phép lái xe bị tước đến một khoảng thời gian từ 01 tháng đến 03 tháng. Quy trình này không chỉ nhấn mạnh vào việc xử lý vi phạm một cách nghiêm túc mà còn thiết lập một cơ chế rõ ràng và công bằng để đối phó với các trường hợp vi phạm cụ thể như vậy. Điều này nhằm mục đích giữ vững trật tự giao thông và đảm bảo an toàn cho hành khách đồng thời tạo động lực cho người lái xe tuân thủ đúng các quy định và cam kết với việc chấp hành các điều lệ vận tải công cộng.

Bạn đọc có thể tham khảo bài viết sau: Hợp đồng vận chuyển hành khách là gì? Đặc điểm, hình thức của hợp đồng vận chuyển hành khách

Bài viết trên luật  MInh Khuê đã gửi đến bạn đọc chi tiết về vấn đề: Xử phạt không có hợp đồng vận tải danh sách hành khách. Bạn đọc có bất kỳ thắc mắc về vấn đề pháp lý có thể liên hệ qua số tổng đài 19006162 hoặc thông qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn cụ thể.