1. Trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu
Theo Điều 603 Bộ luật dân sự 2015:
1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
4. Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Chủ sở hữu súc vật phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, trong trường chủ sở hữu đang trực tiếp quản lý, sử dụng súc vật mà súc vật gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường, bất kể chủ sở hữu có lỗi trong việc quản lý súc vật hay không. Bởi vì chủ sở hữu là súc vật người được thực hiện các quyền năng đổi với súc vật, trong đó có quyền khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức mà súc vật mang lại. Do đó, theo lẽ công bằng, thì khi súc vật gây ra thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thường là hoàn toàn phù hợp. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu súc vật cũng xuất phát từ việc chủ sở hữu được quyền khai thác công dụng và hưởng hưởng lợi ích mà súc vật mang lại. Trong trường hợp này, chủ sở hữu phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra đối với người bị thiệt hại, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu với người bị thiệt hại có thỏa thuận khác về mức bồi thường.
Thứ hai, trong trường hợp súc vật gây thiệt hại khi không thuộc sự quản lý của chủ sở hữu thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
- Một là, súc vật gây thiệt hại khi súc vật đang do người được chủ sở hữu chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng (người thuê, người mượn súc vật, người trông giữ súc vật theo hợp đồng với chủ sở hữu). Trong trường hợp này, về nguyên tắc thì trách nhiệm bồi thường thuộc về người được giao quản lý, sử dụng súc vật. Tuy nhiên, nếu có thỏa thuận thì trách nhiệm bồi thường lại thuộc về chủ sở hữu.
- Hai là, theo quy định tại khoản 2 Điều này, nếu việc súc vật gây thiệt hại do sự tác động của người thứ ba mà chủ sở hữu cũng có lỗi thì chủ sở hữu súc vật và người thứ ba phải liên đới trong việc bồi thường cho người bị thiệt hại. Trong trường hợp này, súc vật chỉ gây ra thiệt hại khi có đủ hai yếu tố cần thiết và các yếu tố này phải có liên hệ với nhau, mà nếu thiếu một trong hai yếu tố đó súc vật sẽ không có “cơ hội” để gây thiệt hại: (i) chủ sở hữu không quản lý hoặc quản lý súc vật không chặt chẽ; (ii) người thứ ba phải tác động đến súc vật (dọa, ném đá, giật điện, đập gậy, ...).
- Ba là, súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật mà gây thiệt hại. Trong trường hợp này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phát sinh khi chủ sở hữu có lỗi trong việc quản lý súc vật. Chính vì chủ sở hữu quản lý không tốt nên súc vật mới bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật và gây ra thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này không xuất phát từ việc chủ sở hữu được quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức do súc vật mang lại, mà phát sinh từ sự vi phạm nghĩa vụ quản lý tài sản của chủ sở hữu.
Thứ ba, trong trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường theo tập quán nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Có thể thấy, quy định này hướng tới việc giải quyết hai vấn đề:
- Chủ thể bồi thường thiệt hại chỉ có thể là chủ sở hữu;
- Vấn đề bồi thường thiệt hại được áp dụng theo tập quán ở địa phương.
2. Trách nhiệm bồi thường của người được giao chiếm hữu, sử dụng súc vật
Theo Điều 603 Bộ luật dân sự 2015: "Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."
Người chiếm hữu, sử dụng súc vật trong quy định này được hiểu là những người được chủ sở hữu súc vật chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng thông qua giao dịch, ví dụ như người thuê, người mượn súc vật, người trông giữ súc vật, ... Theo đó, họ có quyền chiếm hữu, sử dụng súc vật để phục vụ cho các nhu cầu của mình (lấy sức kéo, lấy trứng, sữa,...), hoặc họ sẽ được hưởng một khoản tiền công từ việc quản lý gia súc thay cho chủ sở hữu, hoặc họ sẽ là người có quyền quản lý, giám sát hoạt động của súc vật mà chủ sở hữu chuyển giao. Do đó, khi súc vật gây thiệt hại thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nếu súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật mà người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường cùng với người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật.
3. Trách nhiệm bồi thường của người chiếm hữu, sử dụng súc vật trái pháp luật
"Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường" (Điều 603 Bộ luật dân sự 2015).
Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật có thể được hiểu là những người chiếm hữu, sử dụng súc vật của người khác mà không dựa trên cơ sở các quy định pháp luật về chiếm hữu, cũng như về sử dụng. Ngay khi họ thực hiện hành vi chiếm hữu, sử dụng súc vật của người khác thì đã bị coi là trái pháp luật, và đương nhiên trách nhiệm dân sự của họ đã phát sinh từ thời điểm thực hiện hành vi, kể cả súc vật chưa gây ra thiệt hại. Tuy nhiên, nếu súc vật chưa gây ra thiệt hại thì trách nhiệm của họ với chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không phải là trách nhiệm bồi thường, mà có thể là trách nhiệm hoàn trả súc vật và hoa lợi, lợi tức. Trong trường hợp súc vật gây thiệt hại cho người thứ ba thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường thậm chí họ có thể quản lý chặt chẽ súc vật đó. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phải là trách nhiệm với chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp súc vật mà với người bị thiệt hại. Hành vi chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật không phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, nhưng hành vi chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật có thể coi là đã tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi để súc vật gây ra thiệt hại. Do đó, cơ sở chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật chính là hành vi chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật mà họ đã thực hiện.
4. Trách nhiệm bồi thường của người thứ ba
Theo khoản 2 Điều 603 Bộ luật dân sự 2015:
"Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."
Người thứ ba được nhắc đến trong quy định này không phải là chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật, cũng không phải là người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật. Tại thời điểm súc vật gây thiệt hại, người thứ ba không được xác định là người đang quản lý, sử dụng súc vật mà họ là người thực hiện hành vi tác động, kích động súc vật khiến cho súc vật gây thiệt hại. Trong trường hợp này, súc vật không tự nhiên gây ra thiệt hại mà do có tác động của người thứ ba dẫn đến súc vật gây thiệt hại, nên việc súc vật gây ra thiệt hại là hoàn toàn bị động. Chúng không chủ động tấn công người và tài sản, mà chỉ đơn giản là đang thực hiện một hành động tự vệ hoặc chạy trốn khỏi sự tác động của người thứ ba, nên sự tác động, kích động của người thứ ba được coi là nguyên nhân dẫn đến việc súc vật gây thiệt hại cho người khác, về thực chất, đây là bồi thường thiệt hại do hành vi của người thứ ba tác động đến súc vật gây ra, chứ không chỉ đơn thuần là do súc vật tự gây ra. Do đó, cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thứ ba chính là hành vi trái pháp luật mà họ thực hiện.
5. Ví dụ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
Ông P có một con trâu, giao cho Q (10 tuổi – là con trai ông) chăn dắt. Khi chị H đang gieo mạ trên đồng đã bị con trâu húc té ngửa, sừng của nó đâm trúng mắt chị, khiến chị bị thương tật ở mắt. Chị H yêu cầu ông P phải bồi thường thiệt hại vì con trâu của ông đã gây thiệt hại cho chị. Ông P cho rằng, chị H cũng có lỗi trong việc con trâu gây ra thiệt hại. Do chị H tay cầm bó mạ đứng hua hua trên bờ ruộng làm con trâu tưởng chị cho nó ăn nên đã chạy lại giành bó mạ. Nếu chị không tiếc của, để nó ăn thì đã không xảy ra sự việc đáng tiếc trên. Vì chị H cố tình giằng co bó mạ với con trâu dẫn đến nó đã húc chị.
– Ai có lỗi trong việc gây thiệt hại?
Điều 603 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác”. Q là người đang chăn dắt, quản lý trâu nhưng do Q là người chưa thành niên, nên P – bố Q và là chủ sở hữu con trâu là người có lỗi đối với thiệt hại do con trâu gây ra.
Chị H không có lỗi làm cho con trâu gây thiệt hại cho chị. Chị cầm bó mạ để gieo không phải là hành động khiêu khích con trâu. Việc chị giằng lại bó mạ không cho trâu ăn là phản ứng bình thường để bảo vệ tài sản của mình. Trong trường hợp này, chỉ có chủ sở hữu của súc vật có lỗi trong việc quản lý súc vật. Vì vậy, ông P phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho chị H theo Điều 603 BLDS 2015 – Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Trân trọng./.