Khách hàng: Kính thưa Luật sư, tôi muốn hỏi một số câu hỏi liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra, theo đó, hiện nay ở Việt Nam căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra được quy định ở đâu? Nó có sự khác nhau giữa pháp luật trước đây và ngày nay không? Quy định của pháp luật Việt Nam với một số nước trên thế giới có sự khác nhau không?

Cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi tới Công ty Luật Minh Khuê, câu hỏi của bạn, đội ngũ Luật sư bên Công ty chúng tôi trả lời với những nội dung sau:

 

1. Khái niệm loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đó là:

+ Là loại trách nhiệm dân sự phát sinh bên ngoài, không phụ thuộc hợp đồng mà chỉ cần tồn tại một hành vi vi phạm pháp luật dân sự, cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người khác và hành vi này cũng không liên quan đến bất cứ một hợp đồng nào có thể có giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại.

+ Thiệt hại không chỉ là nền tảng cơ bản mà còn là điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

 

2. Quy định căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường

Về vấn đề này, có sự khác biệt giữa Bộ luật dân sự trước đây và Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong Bộ luật dân sự trước đây, chỉ có một căn cứ loại trừ trách nhiệm và căn cứ này được quy định trực tiếp tại khoản 1 Điều 625 đó là “người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình”.

Trong Bộ luật dân sự năm 2015, căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường không được quy định trực tiếp trong Điều 603 mà quy định chung trong khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015.

"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này."

Theo đó, nếu không có thỏa thuận và luật không có quy định gì khác thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra được loại trừ theo 2 căn cứ:

- Do sự kiện bất khả kháng;

- Hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. Việc chứng minh sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại là nghĩa vụ của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật.

Như vậy, nếu họ không thể chứng minh có một trong hai căn cứ này xảy ra thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu súc vật gây thiệt hại.

Như vậy, chỉ khi xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới được loại trừ. Trong trường họp người bị thiệt hại cũng có một phần lỗi thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ không được loại trừ, nhưng họ có được bồi thường toàn bộ hay không cũng là vấn đề cần xem xét.

 

3. Sự khác biệt giữa Bộ luật dân sự trước đây và Bộ luật dân sự năm 2015

Đối với bộ luật dân sự trước đây, trường hợp “người bị thiệt hại cũng có một phần lỗi” được quy định trong một trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể tại Điều 617.

"Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường."

Dựa vào quy định của Điều 617 trên chúng ta có thể hiểu rằng tinh thần của điều này là chỉ áp dụng với trường hợp thiệt hại do hành vi gây ra.

Ví dụ: A phóng nhanh, vượt ẩu lao vào B đi ngược chiều...

Điều luật trên không áp dụng với trường hợp thiệt hại do tài sản nói chung, súc vật nói riêng gây ra. Bởi vì, trong Điều 617 sử dụng lặp lại hai lần cụm từ “người gây thiệt hại” chứ không sử dụng cụm từ “người phải bồi thường”.

Do đó, có thể hiểu theo tinh thần của Bộ luật dân sự trước đây khi súc vật gây thiệt hại thì hoặc là sẽ bồi thường theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ hoặc là trách nhiệm bồi thường sẽ được loại trừ, chứ không có trường hợp người bị súc vật gây thiệt hại chỉ được bồi thường một phần vì cũng có một phần lỗi. Tuy nhiên, trên thực tế, khi giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra, Hội đồng xét xử vẫn áp dụng quy định tại Điều 617 Bộ luật đó để xác định lỗi của người bị thiệt hại. Phán quyết của Hội đồng xét xử đưa ra có thể phù hợp với lẽ công bằng, nhưng lại không có cơ sở pháp lý rõ ràng.

Đối với Bộ luật dân sự năm 2015. Khác với nội dung ta vừ phân tích, kết cấu của Bộ luật dân sự năm 2015 đã có nhiều thay đổi. Cụ thể là trường hợp “người bị thiệt hại cũng có lỗi” không còn được thiết kế thành một trường hợp cụ thể về bồi thường thiệt hại nữa, mà đã được quy định thành nguyên tắc chung về bồi thường thiệt hại tại khoản 4 Điều 585 đó là:

“Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”.

Quy định này thuộc mục những quy định chung về bồi thường thiệt hại. Theo logic thì những quy định chung sẽ áp dụng với cả trường hợp bồi thường thiệt hại do hành vi và do tài sản gây ra. Do đó, khi người bị thiệt hại có một phần lỗi thì họ sẽ không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Như vậy, có thể hiểu là tinh thần của Bộ luật dân sự năm 2015, việc người bị thiệt hại cũng có một phần lỗi không phải là căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nhưng lại là một trong những căn cứ để xác định mức bồi thường tương ứng mà chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng súc vật phải gánh chịu. Đây là sự thay đổi hợp lý, bởi vì theo lẽ công bằng thì bất kì chủ thể nào cũng phải chịu trách nhiệm về lỗi của mình.

 

4. Quy định nước Pháp và Nhật Bản về loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại

a. Pháp luật dân sự nước Pháp

Pháp luật dân sự của Pháp không quy định căn cứ loại trừ trách nhiệm của chủ sở hữu, người sử dụng động vật nói chung (trong đó gồm cả súc vật), tức là họ phải chịu trách nhiệm trong mọi trường hợp động vật gây ra thiệt hại, bất kể họ có lỗi hay không có lỗi trong việc quản lý động vật.

Điều này cho thấy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do động vật gây ra theo quy định của pháp luật dân sự Pháp không xuất phát từ lỗi mà xuất phát từ những lợi ích mà họ được hưởng từ việc sử dụng động vật.

b. Pháp luật dân sự Nhật Bản

Theo Pháp luật dân sự Nhật Bản cũng không quy định cụ thể về căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do động vật (trong đó có súc vật) gây ra, nhưng lại quy định trường họp người chiếm hữu, người chăm sóc động vật không phải bồi thường thiệt hại.

Theo đó, Điều 718 Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định:

“Người chiếm hữu động vật phải bồi thường thiệt hại do nó gây ra cho người thứ ba; song điều này không áp dụng nếu người sở hữu đã bảo quản nó với sự quan tâm đúng mức phù hợp với đặc tính và bản chất của động vật”.

Việc người chiếm hữu không phải bồi thường thiệt hại theo quy định này đơn giản chỉ là do người chiếm hữu đã tuân thủ quy định về quản lý động vật và họ không bị coi là có lỗi khi động vật gây thiệt hại. Theo đó, nếu không có đầy đủ các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì việc người chiếm hữu không phải bồi thường là một lẽ tất nhiên.

 

5. Quy định nước Đức và Thái Lan về loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại

a. Pháp luật dân sự Đức

Pháp luật dân sự của Đức đưa ra căn cứ loại trừ trách nhiệm khác nhau giữa các chủ thể. Theo quy định tại Điều 833 Bộ luật Dân sự Đức, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người nuôi giữ động vật (bao gồm cả súc vật) được loại trừ khi có hai điều kiện sau:

Điều kiện thứ nhât, thiệt hại gây ra bởi vật nuôi trong nhà nhằm phục vụ nghề nghiệp, hoạt động kinh tê hoặc sinh sống của người nuôi giữ động vật;

Điều kiện thứ hai, người nuôi giữ động vật đã tuân theo sự cẩn trọng cần thiết khi giám sát động vật hoặc thiệt hại vẫn xảy ra kể cả khi đã vận dụng sự cẩn trọng này.

Điều 834 Bộ luật Dân sự Đức lại đưa ra căn cứ loại trừ trách nhiệm đối với người giám sát động vật theo họp đồng với người nuôi giữ. Theo đó, người giám sát động vật sẽ được loại trừ trách nhiệm bồi thường nếu người giám sát đã tuân theo sự cẩn trọng cần thiết khi giám sát động vật hoặc thiệt hại vẫn xảy ra kể cả khi đã vận dụng sự cẩn trọng. Như vậy, theo pháp luật dân sự Đức, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do động vật gây ra có được loại trừ hay không phụ thuộc vào sự cẩn trọng hoặc không cẩn trọng trong việc quản lý động vật. Suy rộng ra, có thể hiểu rằng, theo pháp luật dân sự Đức, lỗi là được coi là cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do động vật gây ra.

b. Pháp luật dân sự Thái Lan

Cũng giống như pháp luật dân sự của Đức, pháp luật Thái Lan cũng quy định vấn đề loại trừ trách nhiệm bồi thường trên cơ sở sự cẩn trọng hoặc bất cẩn của chủ sở hữu hoặc người trông coi động vật (gồm cả thú dữ).

Theo Điều 433 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, chủ sở hữu hoặc người thay mặt chủ sở hữu trông coi động vật sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do động vật gây ra nếu chứng minh được là mình đã trông nom cẩn thận con vật đó phù họp với loài và tính chất của nó hoặc hoàn cảnh khác, hoặc chứng minh được là tổn thất đó có thể vẫn xảy ra bất chấp sự trông nom cẩn thận nói trên.

=> Kết Luận: Chúng ta có thể nhận thấy rằng pháp luật của hầu hết các nước được nghiên cứu đều quy định căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do động vật (gồm cả súc vật) gây ra, và cơ sở của việc loại trừ này đều xuất phát từ trách nhiệm quản lý của chủ sở hữu hoặc người được giao quản lý, giám sát động vật.

Nếu chủ sở hữu, người quản lý, giám sát động vật tuân thủ đầy đủ các quy định liên quan đến việc giám sát, quản lý động vật thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu động vật gây thiệt hại. Ngược lại, sự bất cẩn trong quản lý động vật là căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của họ do động vật gây ra.

Những quy định này có sự khác biệt với pháp luật Việt Nam, bởi theo quy định pháp luật Việt Nam, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản nói chung, súc vật nói riêng gây ra phát sinh không chí từ sự vi phạm về quản lý, mà còn dựa trên cơ sở các quyền mà chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật được thực hiện. Do đó, ngay cả khi chủ sở hữu không có lỗi thì vẫn phải bồi thường thiệt hại nếu súc vật thuộc sở hữu của mình gây thiệt hại cho người khác.

Trân trọng!