Khách hàng: Kính thưa Luật sư, đối với trường hợp súc vật gây thiệt hại khi không thuộc sự quản lý của chủ sở hữu thì chủ sở hữu có phải bồi thường thiệt hại không? Nếu có thì chủ sở hữu phải bồi thường trong trường hợp nào ạ?

Cảm ơn!

1. Chủ sở hữu là gì?

Mỗi chủ thể của chủ sở hữu với tư cách là chủ sở hữu thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khác nhau; có thể trực tiếp thực hiện toàn bộ các quyền năng của quyền sở hữu hoặc giao cho người khác thực hiện một số quyền năng nhất định của quyền sở hữu.

Theo đó:

  1. Quyền chiếm hữu là quyền của một chủ thể pháp luật được nắm giữ, quản lí tài sản trên thực tế hoặc danh nghĩa pháp lí theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ
  2. Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Sử dụng là việc dùng vật (tài sản) đó nhằm thỏa mãn nhu cầu nhất định của chủ sở hữu hoặc của người đang trực tiếp chiếm hữu, chi phối tài sản
  3. Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản

2. Khái niệm súc vật

Theo từ điển tiếng việt, Súc vật hay còn gọi là vật nuôi theo cách hiểu chung nhất là những loài động vật được nuôi trong nhà, chúng có thể được thuần hóa (hoàn toàn) hoặc bán thuần hóa (thuần hóa một phần) hoặc được thuần dưỡng, huấn luyện. Súc vật có thể bao gồm gia súc, gia cầm, thú cưng hoặc vật nuôi khác. Súc vật được nuôi và sử dụng trong nông nghiệp, công nghiệp, thể thao, giải trí, bầu bạn và các công việc khác. Dưới đây là danh sách liệt kê các loài động vật được nuôi trong nhà.

Súc vật được hiểu đó là “thú vật nhà”, hay “thú vật nuôi trong nhà”, “con vật nuôi trong nhà”. Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất thì “súc vật là những loại vật nuôi trong nhà”. Tuy nhiên, vật nuôi trong nhà có thể là thú hoặc chim, mà súc vật là động vật thuộc lớp thú, đó là “một loài động vật có 4 chân, có vú và sinh con”, khác với gia cầm là “giống vật có cánh nuôi trong nhà như gà, vịt, ngỗng”. Ngoài ra, súc vật còn được hiểu là “thú dữ được thuần hóa,...”.

Như vậy, Bộ luật dân sự năm 2015 không đưa ra khái niệm súc vật, nhưng đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về súc vật được đưa ra. Nhìn chung, các cách định nghĩa này đều khẳng định súc vật là loài thú đã được thuần dưỡng để nuôi ở trong nhà.

Vậy thú giữ và súc vật khác nhau hay giống nhau? Thú dữ có những đặc điểm khác biệt so với súc vật, trong đó đặc điểm đặc biệt quan trọng đó là con người chưa thể thuần dưỡng được thú dữ. Còn những loài thú mà có thể thuần dưỡng để nuôi trong nhà thì về bản chất đều “không dữ”. Do đó, ta chỉ nên coi súc vật là một loài thú (không dữ) chứ không nên coi chúng là thú dữ. Từ những phân tích này, có thể đưa ra khái niệm súc vật như sau:

Súc vật là những loài động vật đã được con người thuần dưỡng để trở thành những vật nuôi trong nhà, sống thân thiện với con người và môi trường xung quanh, con người có thể điều khiển được hoạt động của chúng để phục vụ cho các nhu cầu của mình.”

3. Cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra được quy định cụ thể trong Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015.

"Điều 603. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

3. Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

4. Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội."

Mặc dù súc vật và thú dữ đều là các loài động vật và đều có khả năng gây ra những thiệt hại cho con người và môi trường xung quanh, dẫn đến việc phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu hoặc các chủ thể khác. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại do súc vật và thú dữ gây ra lại được quy định khác nhau. Điều này được giải thích bởi những đặc điểm khác biệt về bản năng tính loài giữa súc vật và thú dữ.

=> Sự tách biệt các trường hợp bồi thường thiệt hại do động vật gây trong Bộ luật Dân sự của Việt Nam đảm bảo việc xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường trong các trường họp khác nhau một cách chi tiết hơn. Tuy nhiên, việc tách biệt sẽ rơi vào việc liệt kê các trường hợp bồi thường thiệt hại do động vật gây ra, mà việc liệt kê sẽ không thể bao quát được tất cả các trường hợp động vật gây thiệt hại, dẫn đến việc khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại sẽ phải viện dẫn quy định tương tự pháp luật để giải quyết. Điều này dẫn đến nhiều trường hợp, cơ quan áp dụng đã viện dẫn quy định một cách không chính xác. Thực tế này cho thấy việc hoàn thiện cơ cấu các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do động vật gây ra là một trong những yêu cầu mà cuốn sách này cần phải giải quyết.

 

4. Trường hợp súc vật gây thiệt hại khi thuộc sự quản lý của chủ sở hữu

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cũng có thể thuộc về chủ sở hữu, về người được giao chiếm hữu, sử dụng súc vật, về người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật. Tuy nhiên, khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra còn có thể là người thứ ba có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu súc vật được thể hiện như sau:

Căn cứ vào từng trường hợp súc vật gây thiệt hại mà trách nhiệm bồi thường thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu lại được xác định khác nhau.

Đối với trường hợp chủ sở hữu đang trực tiếp quản lý, sử dụng súc vật mà súc vật gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường, bất kể chủ sở hữu có lỗi trong việc quản lý súc vật hay không.

Điều này được thể hiện cụ thể trong quy định tại khoản 1 Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015.

"Điều 603. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Cũng giống như đối với trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, chủ sở hữu là súc vật người được thực hiện các quyền năng đối với súc vật, trong đó có quyền khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức mà súc vật mang lại, quyền chiếm hữu, sử dụng súc vật. Do đó, theo lẽ công bằng, thì khi súc vật gây ra thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thường là hoàn toàn phù hợp. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu súc vật cũng xuất phát từ việc chủ sở hữu được quyền khai thác công dụng và hưởng hưởng lợi ích mà súc vật mang lại.

Trong trường hợp này, chủ sở hữu phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra đối với người bị thiệt hại, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu với người bị thiệt hại có thỏa thuận khác về mức bồi thường.

5. Trường hợp súc vật gây thiệt hại khi không thuộc sự quản lý của chủ sở hữu 

Trong trường hợp súc vật gây thiệt hại khi không thuộc sự quản lý của chủ sở hữu thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

Trường hợp thứ nhất, súc vật gây thiệt hại khi súc vật đang do người được chủ sở hữu chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng (người thuê, người mượn súc vật, người trông giữ súc vật theo họp đồng với chủ sở hữu).

Trong trường hợp này, về nguyên tắc thì trách nhiệm bồi thường thuộc về người được giao quản lý, sử dụng súc vật. Tuy nhiên, nếu có thỏa thuận thì trách nhiệm bồi thường lại thuộc về chủ sở hữu.

Đây là trường hợp chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại khi đang không thực hiện việc khai thác, sử dụng súc vật (súc vật có thể do người thuê, người mượn đang khai thác công dụng) nhưng điều này không có nghĩa là không có sự công bằng đối với chủ sở hữu. Trong trường hợp này, lẽ công bằng thể hiện ở việc chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu, sử dụng súc vật toàn quyền thỏa thuận để xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra.

Ngoài ra, giữa chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu, sử dụng súc vật cũng có quyền thỏa thuận về việc trách nhiệm bồi thường thuộc về một bên hay cả hai bên. Trong trường hợp trách nhiệm bồi thường chỉ thuộc về chủ sở hữu theo sự thỏa thuận của các bên, thì mức bồi thường cũng có thể phụ thuộc vào sự thỏa thuận với người bị thiệt hại. Nếu không có sự thỏa thuận thì chủ sở hữu phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Hơn nữa, theo quy định tại khoản 2 Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015

"Điều 603. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Như vậy, nếu việc súc vật gây thiệt hại do sự tác động của người thứ ba mà chủ sở hữu cũng có lỗi thì chủ sở hữu súc vật và người thứ ba phải liên đới trong việc bồi thường cho người bị thiệt hại.

Trong trường hợp này, súc vật chỉ gây ra thiệt hại khi có đủ hai yếu tố cần thiết và các yếu tố này phải có liên hệ với nhau, mà nếu thiếu một trong hai yếu tố đó súc vật sẽ không có “cơ hội” để gây thiệt hại: (i) chủ sở hữu không quản lý hoặc quản lý súc vật không chặt chẽ; (ii) người thứ ba phải tác động đến súc vật (dọa, ném đá, giật điện, đập gậy,...). Có thể thấy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu và người thứ ba trong trường hợp này xuất phát trên cơ sở lỗi của họ, nên để xác định mức bồi thường của mỗi bên phải căn cứ vào mức độ lỗi của họ.

Trên thực tế, việc xác định mức độ lỗi của chủ sở hữu và của người thứ ba hoàn toàn phụ thuộc vào nhận định của Hội đồng xét xử, trên cơ sở những tình tiết thực tế của vụ việc. Việc xác định chính xác mức độ lỗi của mỗi chủ thể sẽ ảnh hưởng tới việc xác định mức thiệt hại mà mỗi bên phải bồi thường. Trong trường hợp không có đủ căn cứ để xác định mức độ lỗi của mỗi bên thì thiệt hại sẽ được chia đều, tức là mỗi bên phải bồi thường một nửa thiệt hại cho người bị thiệt hại.

Trường hợp thứ hai, súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật mà gây thiệt hại.

Trong trường hợp này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phát sinh khi chủ sở hữu có lỗi trong việc quản lý súc vật.

Chính vì chủ sở hữu quản lý không tốt nên súc vật mới bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật và gây ra thiệt hại. trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này không xuất phát từ việc chủ sở hữu được quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức do súc vật mang lại, mà phát sinh từ sự vi phạm nghĩa vụ quản lý tài sản của chủ sở hữu. Chính việc chủ sở hữu không quản lý tốt súc vật cũng là một trong những yếu tố gián tiếp tác động làm cho súc vật gây thiệt hại.

Đối với trường hợp này, chủ sở hữu súc vật chỉ phải bồi thường tương ứng với mức độ lỗi của mình, nhưng phương thức bồi thường thiệt hại trong trường hợp này lại là liên đới bồi thường. Việc liên đới bồi thường thiệt hại giữa chủ sở hữu với người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật hoàn toàn do pháp luật quy định và các bên không được thỏa thuận thực hiện việc bồi thường riêng rẽ. Mức bồi thường của mỗi bên sẽ được xác định trong từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, trong trường này, nếu chủ sở hữu chứng minh được mình không có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì không phải liên đới bồi thường.

Có thể thấy, đây là quy định mới của Bộ luật dân sự năm 2015 so với Bộ luật dân sự trước đây. Đối với Bộ luật dân sự trước đây, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này thuộc về người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật.

Quy định này có tác động đến ý thức của chủ sở hữu, đó là nâng cao trách nhiệm của chủ sở hữu trong việc quản lý chặt chẽ súc vật của mình. Ngoài ra, quy định mới này còn nhằm đảm bảo quyền lợi của người bị thiệt hại, bởi vì người bị thiệt hại có thể lựa chọn chủ thể có khả năng để yêu cầu bồi thường một cách nhanh chóng và kịp thời.

Trân trọng!