1. Khái quát chung về Án lệ số 70/2023/AL

1.1. Nguồn án lệ

Quyết định giám đốc số 06/2022/LĐ-GĐT ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là về vụ án lao động "Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động" giữa ông Vương Quốc A (nguyên đơn) và Công ty trách nhiệm hữu hạn K Việt Nam (bị đơn).

Trong tình huống này, ông Vương Quốc A đã ký kết hợp đồng lao động có thời hạn, và sau đó, trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực, ông trúng cử Chủ tịch Ban chấp hành công đoàn cơ sở, mặc dù việc này không hợp lệ. Sau khi hợp đồng kết thúc, Công ty K Việt Nam đã quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Vương Quốc A.

 

1.2. Tóm tắt nội dung vụ án

Ông Vương Quốc A đã làm việc cho Công ty TNHH K Việt Nam từ tháng 3/2015 sau một tháng thử việc, sau đó ký kết hợp đồng lao động thời hạn 12 tháng. Hợp đồng này sau đó được gia hạn đến ngày 25/11/2016. Trong thời gian làm việc, ông không vi phạm và không bị kỷ luật. Tuy nhiên, vào ngày 25/11/2016, Công ty K quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với lý do hết hạn, trong khi ông đang là Chủ tịch Công đoàn cơ sở của Công ty. Ông Vương Quốc A cho rằng quyết định chấm dứt hợp đồng này không đúng và yêu cầu Công ty nhận ông trở lại làm việc và thanh toán tiền lương cùng với bồi thường tổng cộng 327.690.406 đồng.

Công ty K Việt Nam bào chữa rằng họ đã tuân theo quy trình và quy định pháp luật khi chấm dứt hợp đồng lao động của ông A. Họ đã không tái ký hợp đồng khi hợp đồng hết hạn vào ngày 24/3/2016 và sau đó gia hạn thêm từ ngày 26/4/2016 đến ngày 25/11/2016. Tuy nhiên, sau khi Công ty biết ông A đã được bầu làm Chủ tịch Công đoàn cơ sở, họ tiếp tục chấm dứt hợp đồng lao động với ông A và thông báo cho Công đoàn Khu công nghiệp B. Công ty K Việt Nam cho rằng họ đã thực hiện việc chấm dứt hợp đồng theo quy định pháp luật, và do đó, họ không đồng ý với các yêu cầu của ông A.

Sau khi án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa từ ngày 21/11/2019 đã không chấp nhận yêu cầu của ông Vương Quốc A, ông A đã kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ngày 30/7/2020, Tòa án đã quyết định chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông A và sửa đổi bản án sơ thẩm. Công ty K Việt Nam bị buộc phải trả tiền lương và bồi thường tổng cộng 216.090.000 đồng cho ông A, cùng với việc truy đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, và Bảo hiểm thất nghiệp cho ông A từ tháng 11/2016 đến tháng 11/2019.

Sau đó, Công ty K Việt Nam đã kháng nghị bản án phúc thẩm, và Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm tại Quyết định số 01/2022/KN-LĐ ngày 22/4/2022. Trong phiên tòa giám đốc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Chánh án và giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

 

2. Nhận định của Tòa án

Nhận định 1:

Ông Vương Quốc A và Công ty TNHH K Việt Nam đã ký hợp đồng lao động số 15/HĐLĐ/KD.14 vào ngày 25/4/2015 với thời hạn là 12 tháng, kết thúc vào ngày 25/4/2016. Trong thời gian hợp đồng lao động còn hiệu lực, Công đoàn cơ sở của Công ty K được thành lập và ông Vương Quốc A đã được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành lâm thời theo Quyết định số 111/QĐCN-CĐKCN ngày 25/11/2015, với thời hạn 12 tháng để tổ chức đại hội bầu Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở trước ngày 25/11/2016. Do đó, ông A và Công ty K đã ký văn bản thỏa thuận số 137/HĐLĐ/KD.16 về việc gia hạn hợp đồng lao động của ông A đến ngày 25/11/2016, trong đó đã ghi rõ "Gia hạn thời gian cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ BCH Công đoàn từ 25/11/2015 đến 25/11/2016." Thỏa thuận gia hạn hợp đồng lao động này tuân theo quy định tại khoản 6 của Điều 192 Bộ luật Lao động 2012 và Điều 25 của Luật Công đoàn.

Nhận định 2:

Cùng với việc gia hạn hợp đồng lao động với ông A cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ Ban Chấp hành Công đoàn như đã được mô tả, Công ty K đã cảnh báo ông A và Công đoàn Khu công nghiệp B rằng họ sẽ không tái ký hợp đồng lao động với ông A sau khi hết thời hạn gia hạn. Cụ thể, họ đã đưa ra các thông báo và quyết định sau:

- Quyết định số 03/2016/QĐNV-KD ngày 24/3/2016.

- Các văn bản ngày 24/10/2016 và 07/11/2016.

- Quyết định số 05/2016/QĐNV-KD ngày 25/11/2016.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông A đã thừa nhận rằng ông đã nhận được các quyết định và thông báo từ Công ty K về việc họ sẽ không tái ký hợp đồng lao động với ông.

Nhận định 3:

Vào ngày 24/10/2016, khi Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời tổ chức Đại hội, thời hạn còn lại của hợp đồng lao động của ông A chỉ còn 01 tháng. Tuy nhiên, ông A và Công đoàn Khu công nghiệp vẫn đưa ông A vào danh sách ứng cử Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở, mặc dù ông A không đáp ứng tiêu chuẩn theo Hướng dẫn số 398/HD-TLĐ ngày 28/3/2012 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Hướng dẫn này yêu cầu rằng "Người tham gia Ban Chấp hành ngoài đảm bảo theo tiêu chuẩn, còn phải đáp ứng các điều kiện sau: về tái cử ban chấp hành: Có đủ tuổi công tác để đảm nhiệm ít nhất 1/2 nhiệm kỳ". Do đó, việc ông A trúng cử Chủ tịch Ban chấp hành Công đoàn cơ sở Công ty K, nhiệm kỳ 2016-2021 và được Công đoàn Khu công nghiệp công nhận là không đáp ứng tiêu chuẩn người ứng cử và người trúng cử là không hợp lệ.

Nhận định 4:

Kể từ khi hết thời hạn gia hạn hợp đồng lao động, Công ty K đã ban hành Quyết định số 05/2016/QĐNV-KD ngày 25/11/2016 để chấm dứt hợp đồng lao động với ông A, tuân theo quy định tại khoản 1 của Điều 36 trong Bộ luật Lao động 2012. Do đó, ông A không có căn cứ để khởi kiện vì việc Công ty K ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông không vi phạm pháp luật. Ban đầu, Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A, và sau đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A là không đúng quy định của pháp luật.

 

3. Nội dung Án lệ

"[3] Vào ngày 24/10/2016, khi Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời tiến hành Đại hội, hợp đồng lao động của ông A chỉ còn thời hạn 01 tháng. Tuy nhiên, ông A và Công đoàn Khu công nghiệp vẫn đưa ông A vào danh sách để bầu cử Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở, mặc dù ông A không đáp ứng tiêu chuẩn theo Hướng dẫn số 398/HD-TLĐ ngày 28/3/2012 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Hướng dẫn này yêu cầu rằng "Người tham gia Ban Chấp hành ngoài đảm bảo theo tiêu chuẩn, còn phải đáp ứng các điều kiện sau: về tái cử ban chấp hành: Có đủ tuổi công tác để đảm nhiệm ít nhất 1/2 nhiệm kỳ." Do đó, việc ông A trúng cử Chủ tịch Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở Công ty K, nhiệm kỳ 2016-2021 và được Công đoàn Khu công nghiệp ban hành Quyết định số 138/QĐCN-CĐKCN ngày 27/10/2016 công nhận là không hợp lệ về tiêu chuẩn người ứng cử, người trúng cử.

[4] Sau khi hết thời hạn gia hạn hợp đồng lao động, Công ty K ban hành Quyết định số 05/2016/QĐNV-KD ngày 25/11/2016 để chấm dứt hợp đồng lao động với ông A, tuân theo quy định tại khoản 1 của Điều 36 trong Bộ luật Lao động. Do đó, việc ông A khởi kiện và lập luận rằng việc Công ty K ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông là trái pháp luật không có cơ sở để chấp nhận. Ban đầu, Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A, và sau đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A là không đúng quy định của pháp luật."

Liên hệ qua 1900.6162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn