Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, tôi muốn hỏi như thế nào là nhà nước pháp quyền? Xin luật sư hãy giải thích giúp tôi?

Cảm ơn!

Trả lời:

1. Nhà nước là gì theo quan điểm của Mác - Lênin?

Theo từ điển pháp luật, nhà nước, hiểu theo nghĩa pháp luật thì tương đương với một quốc gia, là một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình. Nhà nước vì thế mang bản chất giai cấp. Nhà nước xuất hiện kể từ khi xã hội loài người bị phân chia thành những lực lượng giai cấp đối kháng nhau; nhà nước là bộ máy do lực lượng nắm quyền thống trị (kinh tế, chính trị, xã hội) thành lập nên nhằm mục đích điều khiển, chỉ huy toàn bộ hoạt động của xã hội trong một quốc gia do vậy nhà nước mang vai trò xã hội, trong đó chủ yếu để bảo vệ các quyền lợi của lực lượng thống trị. Nhà nước xuất hiện khi có chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xuất hiện những giai cấp đối kháng nhau do vậy mà nó cần một tổ chức chính trị đứng ra để điều hòa những mâu thuẫn ấy và để quản lí xã hội.

Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lênin, nhà nước mang bản chất giai cấp. Nhà nước chỉ ra đời từ khi xã hội phân chia giai cấp. Giai cấp nào thì nhà nước đó. Do trong xã hội nguyên thủy không có phân chia giai cấp, nên trong xã hội nguyên thủy không có Nhà nước.

Cho đến nay, đã có 4 kiểu Nhà nước được hình thành, đó là: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước vô sản (Nhà nước xã hội chủ nghĩa). Nhà nước được giai cấp thống trị thành lập để duy trì sự thống trị của giai cấp mình, để làm người đại diện cho giai cấp mình, bảo vệ lợi ích của giai cấp mình. Bản chất nhà nước có hai thuộc tính: tính xã hội và tính giai cấp cùng tồn tại trong một thể thống nhất không thể tách rời và có quan hệ biện chứng với nhau. Tính giai cấp là thuộc tính cơ bản, vốn có của bất kỳ nhà nước nào. Nhà nước ra đời trước hết phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị; tính xã hội của nhà nước thể hiện ở chỗ nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội, và ở mức độ này hay mức độ khác nhà nước thực hiện bảo vệ lợi ích cơ bản, lâu dài của quốc gia dân tộc và công dân mình.

2. Đặc điểm của nhà nước

Trong khoa học pháp lý, đặc điểm cơ bản của nhà nước như sau:

Nhà nước, sản phẩm của sự phát triển xã hội, một hình thức tổ chức của con người trong xã hội có giai cấp. So với các tổ chức xã hội khác, nhà nước có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, nhà nước thiết lập một quyền lực công đặc biệt không còn hòa nhập với dân cư.

Quyền lực nhà nước là khả năng của nhà nước buộc các tổ chức và cá nhân trong xã hội phục tùng nhà nước, quyền lực nhà nước bao trùm toàn bộ lãnh thổ của đất nước và có tính tối cao so với quyền lực của các tổ chức khác. Quyền lực nhà nước chi phối quyền lực của các tổ chức khác chỉ tác động trong phạm vi nội bộ của tổ chức mình và phải chịu sự chi phối của quyền lực nhà nước. Để thực hiện quyền lực của mình, nhà nước có một lớp người đặc biệt được tổ chức thành các cơ quan nhà nước chuyên làm nhiệm vụ quản lý và thực hiện sự cưỡng chế chuyên làm nhiệm vụ quản lý và thực hiện sự cưỡng chế đối với toàn xã hội. Vì vậy, trong bộ máy nhà nước có các cơ quan chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù … mà trong bộ máy của các tổ chức khác không có.

Thứ hai, nhà nước tập hợp và quản lý dân cư theo lãnh thổ không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính … Việc tập hợp này quyết định phạm vi tác động của quyền lực nhà nước trên quy mô rộng lớn nhất, còn các tổ chức khác thì tập hợp và quản lý con người theo các dấu hiệu như giới tính, độ tuổi, chính kiến, nghề nghiệp …

Thứ ba, nhà nước nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia.

Chủ quyền đó là tính có quyền lực độc lập đối với một khu vực địa lý, ví dụ như lãnh thổ. Nó được thể hiện trong quyền lực lãnh đạo và thiết lập luật pháp. Các quốc gia có thể có chuyển quyền toàn phần hoặc hạn chế hoặc không có chủ quyền đối với những khu vực được luật pháp quốc tế quy đinh là di sản chung của nhân loại.

Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị pháp lý, nó thể hiện quyền độc lập tự quyết của một quốc gia trong việc đưa ra và thưc hiện những chính sách đối nội và đối ngoại không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài. Nhà nước là tổ chức đạ diện chính thức cho toàn xã hội, thay mặt quốc gia nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia.

Thứ tư, nhà nước sẽ ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với toàn xã hội.

Nhà nước với tư cách là tổ chức đạ diện chính thức của toàn bộ xã hội, nhà nước có quyền ban hành pháp luật – một công cụ quản lý xã hội sắc bén và có hiệu quả nhất. Vì vạy, công cụ pháp luật do nhà nước ban hành có tính bắt buộc chung, mọi tổ chức và cá nhân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật. Pháp luật thực thi quyền hành nhà nước.

Thứ năm, nhà nước quy định và thu các loại thuế, bên cạnh đó nhà nước còn phát hành tiền dưới các hình thức bắt buộc, với số lượng và thời hạn ấn định trước.

Với chức năng quy định và thu các loại thuế, với mục đích là nhằm nuôi bộ máy của nhà nước. Ngoài ra, nhà nước còn phải dung nguồn tài chính của mình để xây dựng các công trình và tiến hành các hoạt động chung vì lợi ích chung của toàn xã hội.

3. Nhà nước pháp quyền

Nhà nước pháp quyền, với định nghĩa căn bản nhất là không có ai ở trên luật hay ngoài luật, mà mọi người phải tuân theo pháp luật. Một nguyên tắc bắt nguồn một cách logic từ ý tưởng cho rằng sự thật, cũng như luật, đều dựa trên những nguyên tắc căn bản có thể được phát hiện ra nhưng không thể được tạo ra theo ước muốn.

Có lẽ ứng dụng quan trọng nhất của pháp quyền là nguyên tắc rằng chính quyền chỉ thực thi quyền hành một cách hợp pháp theo các luật được soạn thảo ra và phát hành rộng rãi. Những luật đó được thông qua và thực thi theo đúng các bước được gọi là thủ tục pháp lý. Nguyên tắc này nhằm mục đích ngăn ngừa sự cai trị độc đoán dù cho đó là lãnh đạo chuyên quyền hay quần chúng lãnh đạo. Chính vì vậy, pháp quyền chống lại cả chế độ độc tài lẫn tình trạng vô chính phủ. Samuel Rutherford là một trong những tác giả đương đại đưa ra nguyên tắc đó những nền tảng lý thuyết trong cuốn Lex, Rex (1644), và sau này là Montesquieu trong cuốn Tinh thần Pháp luật xuất bản năm 1748.

Ở Châu Âu đại lục và tư tưởng pháp lý, pháp quyền thường, nhưng không phải luôn luôn, có liên hệ với Rechtsstaat (Nhà nước pháp quyền - Đức). Theo tư tưởng những người châu Mỹ Anglo, pháp quyền có quan hệ mật thiết với tam quyền phân lập, tính chắc chắn của pháp lý, nguyên tắc ước muốn hợp pháp và bình đẳng của mọi người trước pháp luật.

Khái niệm đó không có gì tranh cãi và nó được truyền rằng cụm từ 'Pháp quyền' đã trở thành vô nghĩa do sự lạm dụng của ý thức hệ và việc dùng quá mức chung chung.

Nhà nước pháp quyền là Nhà nước lấy pháp luật làm cơ sở pháp lí thống nhất cho việc điều hành mọi mặt hoạt động của nhà nước, của xã hội, của mọi công dân, dùng pháp luật làm chuẩn mực để phân biệt tính hợp pháp và không hợp pháp; việc được làm và không được làm trong thi hành pháp luật của các cơ quan và cán bộ nhân viên nhà nước, trong việc tuân thủ pháp luật của mọi công dân, tóm lại là một nhà nước phục tùng một trật tự pháp lí loại trừ tình trạng vô chính phủ và tư nhân phục thù, các quyền dân chủ công dân đều được bảo đảm. Trong nhà nước pháp quyền không một cơ quan, tổ chức nào, không một cá nhân nào đứng trên pháp luật và đứng ngoài pháp luật.

Nhà nước pháp quyền là vị thế pháp lý hay một hệ thống thể chế, nơi mỗi người đều phải phục tùng và tôn trọng luật pháp, từ cá nhân đơn lẻ cho tới cơ quan công quyền. Nhà nước pháp quyền như vậy liên hệ chặt chẽ với sự tôn trọng trật tự thứ bậc của các quy phạm, tôn trọng sự phân chia quyền lực và tôn trọng các quyền căn bản.

Nhà nước pháp quyền hình thức Nhà nước cộng hòa trong đó Nhà nước xây dựng nên pháp luật để quản lý xã hội và tự đặt mình dưới pháp luật. Mọi cơ quan Nhà nước đều phải được tổ chức và chỉ được phép hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Công dân tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật. Quyền công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong Nhà nước pháp quyền, ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau. Vai trò của tòa án được đề cao. Điều kiện để có một Nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và kịp thời. Điều này đòi hỏi công tác xây dựng pháp luật và pháp điển hóa không ngừng được thực hiện. Nhà nước pháp quyền dựa trên nguyên tắc dân chủ. Dân chủ là nền tảng để hoàn chỉnh pháp luật. Pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền công dân.

Hay nhà nước pháp quyền là nhà nước nơi những người được ủy giao trọng trách thông qua phiếu bầu phải có trách nhiệm với những luật lệ mà họ ban ra. Lý thuyết phân quyền của Montesquieu vốn là nền tảng cho phần lớn Nhà nước phương Tây hiện đại khẳng định sự phân chia 3 quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) và những giới hạn của 3 thứ quyền lực này. Trong mô hình dân chủ nghị viện, quyền lập pháp (Nghị viện) hạn chế quyền lực của phía hành pháp (Chính phủ) nên chính phủ không thể tự do hành động theo sở thích của mình và phải luôn có được sự hậu thuẫn của Nghị viện, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của dân chúng. Cũng như thế, tư pháp cho phép tạo ra sự đối trọng đối với một số quyết định của chính phủ. Khi ba nhánh quyền lực được phân chia, mỗi nhánh đều muốn và tìm cho mình những quyền lực mới để mở rộng quyền lực cho mình. Khả năng của mỗi nhánh quyền lực mở rộng là khác nhau, như vậy sự mất cân bằng trong ba nhánh quyền lực sẽ bị lệch và đi tới thoái hóa pháp quyền. Làm sao để nhà nước pháp quyền được ổn định và duy trì sự cân bằng quyền lực giữa ba nhánh.

4. Kết luận về nhà nước pháp quyền

Như vậy, ta có thể hiểu, nhà nước pháp quyền đối lập với các thể chế quân chủ tuyệt đối với thứ quyền lực thần thánh và cũng đối lập với các thể chế độc tài, nơi chính quyền hành động bất chấp các quyền căn bản. Nhà nước pháp quyền cũng không đòi hỏi tất cả luật pháp đều phải là luật thành văn.

Ví dụ như Hiến pháp Anh Quốc, dựa trên các tập quán là chủ yếu. Trong trường hợp như thế, những người được giao phó quyền lực phải tuân thủ luật pháp thep tập quán với sự tôn trọng các quyền căn bản tương tự như trong hệ thống luật thành văn.

Đối lập với nhà nước pháp quyền chính là nhà nước độc tài. Chính sách dứt khoát của các chính quyền đó là nhà nước chiếm hữu các quyền uy vốn có để hành động chỉ dựa trên ý thích của họ mà không bị kiểm tra hay hạn chế,

Ví dụ tiêu biểu như là sắc lệnh Night and Fog (Đêm tối và Sương mù) của Đức quốc xã. Các chính quyền độc tài thường thành lập lực lượng cảnh sát chìm thường chịu trách nhiệm đối với những luật được ban hành và có thể đàn áp các mối đe dọa với chính quyền nhà nước đó.

5. Lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước pháp quyền

Trong lịch sử tư tưởng chính trị pháp lí của nhân loại, tư tưởng nhà nước pháp quyền đã hình thành từ thời cổ đại. Ngay từ thời cổ đại, khi con người bị đặt dưới sự cai trị tùy tiện, độc đoán của nhà cầm quyền thì cũng là lúc trong xã hội xuất hiện ý tưởng về một nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, cai trị, quản lí xã hội bằng pháp luật, cả vua, quan cũng như dân chúng đều phải tôn trọng pháp luật, phục tùng pháp luật... Sau hàng nghìn năm dưới những “đêm trường trung cổ”, bước sang thời kì phục hưng, tư tưởng nhà nước pháp quyền tiếp tục được phát triển, hoàn thiện. Thời kì này, tư tưởng đề cao vai trò của pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội luôn gắn liền với tư tưởng dân chủ, khẳng định chủ quyền nhân dân, chống lại sự chuyên quyền, độc đoán của nhà cầm quyền, bảo đảm bảo vệ quyền con người... Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời kì này một mặt khẳng định vai trò của pháp luật, nhưng mặt khác nhấn mạnh tính chất của pháp luật, đòi hỏi pháp luật phải dân chủ, tiến bộ, phản ánh ý chí và nguyện vọng của nhân dân, pháp luật phải phù họp với quyền tự nhiên của con người.

Từ cuối thế kỉ XIX trở lại đây, tư tưởng nhà nước pháp quyền từng bước được hiện thực hoá, nhà nước pháp quyền trở thành một mẫu hình nhà nước lí tưởng, một xu thế tất yếu cần hướng tới của tất cả các nhà nước dân chủ trên thế giới, một mô hình cho việc thiết kế và xây dựng nhà nước của các quốc gia đương đại. Có thể nói, cho đến nay, “sự phát triển của văn minh nhân loại phần lớn được quy định bởi sự phát triển của xã hội công dân và nhà nước pháp quyền".

Nhiều nhà khoa học cho rằng, trong ngôn ngữ hiện đại có hai thuật ngữ được sử dụng với nghĩa tương tự nhau là “Nhà nước pháp quyền" (Rechsstaat, L’état de droit) và “Chế độ pháp quyền" (The Rule of law), tuỳ theo ngôn ngữ của mỗi nước.

Tuy nhiên, trên thực tế, hai thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền" (Rechsstaat, L’état de droit) và “Chế độ pháp quyền" (The Rule of law) này vừa có điểm thống nhất vừa có điểm khác biệt nhau.

Thứ nhất, về sự thống nhất giữa chúng thể hiện ở chỗ cả “nhà nước pháp quyền” và “chế độ pháp quyền” đều bắt nguồn từ những nguyên tắc cơ bản là: tính phổ biến của các chuẩn mực pháp lí, pháp luật phải công khai, các chuẩn mực pháp lí phải rõ ràng và không hồi tố.

Thứ hai, điểm khác nhau giữa chúng là ở chỗ “chế độ pháp quyền” có xu hướng nhấn mạnh nhiều hơn đến sự tham gia của người dân vào một quá trình chính trị có trật tự mà không đề cập rõ ràng đến nhà nước, còn thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” thì nhấn mạnh đến nhà nước, chỉ các đặc trưng cụ thể của một nhà nước nào đó.

Trân trọng!