1. Cách tính thuế khi bán nhà và đất thừa kế?

Trước tiên tôi xin gửi lời chào và lời chúc sức khỏe tới luật sư và gia đình. Tôi xin được luật sư bớt chút thời gian tư vấn cho tôi vấn đề sau đây: Tôi được nhận thừa kế tái sản là đất và ngôi nhà của bố mẹ để lại. Nay tôi muốn bán đi. Xin hỏi, tôi có phải nộp thuế thu nhập cá nhân không?
Rất mong nhận được câu trả lời của luật sư! Tôi xin chân thành cám ơn!
Người gửi: M. T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật thuế của Công ty Luật Minh Khuê.

Bán nhà và đất thừa kế có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không ?

Luật sư tư vấn luật thuế gọi: 1900 6162

Trả lời:

Theo Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi, bổ sung năm 2012) quy định:

Điều 2. Đối tượng nộp thuế

1. Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.......

Điều 3. Thu nhập chịu thuế

...5. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:

a) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;

b) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở;

c) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước;

d) Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản.....

Như vậy, đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. Căn cứ vào điều 3 thì thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở đều là những thu nhập chịu thuế.Trong trường hợp của bạn, bạn được thừa kế tài sản là đất và ngôi nhà vì vậy bạn là người sở hữu quyền sử dụng đất và nhà ở, bạn có quyền chuyển nhượng đất và nhà ở mình sở hữu. khi chuyển nhượng thì bạn sẽ là người có thu nhập từ chuyển nhượng và thu nhập này là một loại thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam do vậy bạn sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

Tuy nhiên căn cứ vào Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007, sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định: nếu bạn chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau;hoặc trường hợp bạn chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất mà bạn lại chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở này thì phần thu nhập từ chuyển nhượng này của bạn được miễn thuế thu nhập cá nhân.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết tiền đền bù đất khi có tranh chấp ? Mức thuế khi chuyển mục đích sử dụng đất ?

2. Một số vấn đề trong thủ tục thừa kế?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi cần văn phòng tư vấn xin cảm ơn ông bà tôi sinh được 8 người con 3 trai và 5 gái ông tôi mất năm 1981 bà tôi mất năm 2006 lúc bà tôi còn sống có chia đất thành 5 phần 1 nhà tôi 1 bác 1 chú. và cô út chưa lấy chồng nhưng không có giấy tờ chỉ có chích đo lưu ủy ban xã. đến năm 2017 thì các cô tôi đòi chia tai sản ... vậy tôi xin hỏi gia đình tôi được cho đất từ năm 1985 đến giờ có mất đc không? theo tôi đc biết đất này do các cụ để lại cũng không có giấy tờ gì?
vậy mong Luât sư tư vấn dùm!

Luật sư tư vấn:

Khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013 số 45/2013/QH13 quy định:

"Điều 168. Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất
1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất..."

Như vậy, nếu ông bà của bạn đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận thì mảnh đất này được coi là di sản để chia thừa kế.

Theo quy định của Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệu về thừa kế là 10 năm, đối chiếu với dữ liệu bạn đưa ra thì thời hiệu để yêu cầu giải quyết thừa kế đã hết do đó tại thời điểm này việc cô bạn đòi chia tài sản thừa kế thì cơ quan Tòa án cũng sẽ không giải quyết.

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Tuy nhiên, theo quy định của Điểm 2.4 Mục I Nghị quyết 02/2004/NQ-HDTP quy định thì có một số trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế ở đây, bạn có thể tham khảo cụ thể:

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Như vậy, nếu như cô bạn có nhu cầu chia tài sản chung thì cơ quan Tòa án vẫn tiến hành giải quyết.

>> Xem thêm:  Tính toán bồi thường thiệt hại trong tranh chấp hợp đồng ? Quyền thừa kế đất đai ?

3. Phân chia tài sản theo Luật thừa kế khi có con riêng?

Chào Luật sư, em xin được tư vấn một vấn đề như sau: Gia đình bên nội em, ông bà nội đều đã mất cả. Hiện tại chỉ còn bác thứ 3 và hai người cô. Còn cha em và người bác thứ hai đã mất: Cha em thì có vợ, hai con và tự có nhà riêng, người bác có nhà ở Đồng Tháp cũng có vợ và hai con.

Nhà ông bà nội thì do bác thứ 3 đứng tên hộ khẩu và sổ đỏ (do các anh em đã đồng ý kí tên cho bác đứng tên khi ông bà nội mất).

Thứ 1, ông nội và bà nội không có con chung, bác và cha em là con của ông nội, còn hai cô là con của bà nội. Vậy theo Luật phân chia tài sản sẽ giải quyết như thế nào khi cha em và bác thứ hai đã mất. Và mẹ em và vợ bác thứ hai có quyền can thiệp gì vào việc quyết định bán tài sản căn nhà của ông bà nội hay không?

Thứ hai, bác thứ 3 không có vợ con. Nếu chẳng may qua đời, mà hai cô không chịu phân chia thì em sẽ giải quyết làm sao. Và nếu được chia thì sẽ chi như thế nào? Phần của bác thứ ba sẽ chia cho ai?

Thứ 3, người chú họ (là con của em ông nội nhưng do khó nuôi đã gửi cho ông nội nuôi) nhập hộ khẩu nhà nội từ nhỏ, vậy có được tính là con nuôi hay không?

Rất mong được sự giải đáp của luật sư. Chân thành cảm ơn./.

Bán nhà và đất thừa kế có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, Gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong câu hỏi, bạn không nói rõ rằng ông bà bạn mất có để lại di chúc hay không và ai là người mất trước nên chúng tôi đưa ra hai trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Nếu ông bà bạn mất có để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia theo di chúc đối với những người con của ông bà

Trường hợp 2: Ông bà không để lại di chúc nên di sản được chia theo pháp luật, những người hưởng di sản theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Vấn đề thừa kế của con riêng của vợ/chồng được quy định tại điều 654 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Điều 654. Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.

Như vậy nếu các cô, các bác và bố bạn có quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc với ông bà bạn như cha đẻ thì khi ông bà bạn mất, không để lại di chúc thì họ đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất giống nhau, được chia di sản đều như nhau.

Sau khi ông bà bạn mất, ba người con của ông bạn đã cùng nhau phân chia quyền sở hữu ngôi nhà mà không có sự góp mặt của hai người con gái của bà bạn dù theo quy định của pháp luật họ cũng được hưởng quyền thừa kế. do bạn không nói rõ thời điểm ông bà bạn mất nên chúng tôi không thể xác định chính xác thời điểm hết thời hiệu khởi kiện đối vói việc thừa kế.

Theo khoản 1 Điều 623, Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện về thừa kế:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.....

Dựa vào quy định nêu trên bạn có thể xác định thời hiệu khởi kiện đã hết hay chưa. Nếu đã hết thì 2 người con gái của bà bạn không thể khởi kiện đòi quyền thừa kế đối với căn nhà kể trên, căn nhà vẫn thuộc sở hữu của bác của bạn theo GCN QSDĐ.

Khi bố bạn và bác của bạn đã mất mà không để lại di chúc thì tài sản thuộc sở hữu của họ sẽ được chia theo pháp luật. Theo đó, bạn, mẹ bạn, vợ bác bạn và những người có quyền thừa kế sẽ có quyền định đoạt với phần tài sản nói trên.

Nếu bác thứ 3 của bạn qua đời, vì bác không có vợ con và ông bà của bạn đã mất nên hàng thừa kế thứ nhất không còn ai. Khi đó , những di sản mà bác bạn để lại sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ 2 là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;. Tuy nhiên, bố bạn và bác thứ 2 là những người thuộc hàng thừa kế thứ 2 cũng đã chết nên trường hợp này sẽ áp dụng thừa kế thế vị theo quy định tại điều 652 Bộ Luật dân sự năm 2015 như sau:

Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Theo đó, hai con của bố bạn và các con ruột của bác 2 của bạn sẽ được hưởng phần thừa kế tương ứng mà lẽ ra bố bạn và bác 2 của bạn được hưởng.

Đối với người chú họ sống ở nhà bạn nhưng không được nhận nuôi hợp pháp theo thủ tục của Pháp luật quy định tại luật nuôi con nuôi thì không được coi là con nuôi của ông bà bạn, và không được hưởng thừa kế vì tại thời điểm mở thừa kế thì những người thừa kế ở hàng thừa kế ở trên vẫn còn sống.

Thủ tục nhận con nuôi theo quy định tại Điều 17, 18, 19 Luật nuôi con nuôi năm 2010 . Cụ thể như sau:

Thứ nhất: Thủ tục Ðăng ký nhận nuôi con nuôi:

1. Ðơn xin nhận con nuôi có xác nhận của cơ quan đơn vị nơi người nhận nuôi công tác (đối với CB-CC, người lao động; lực lượng vũ trang) hoặc UBND Phường nơi cư trú ( đối với nhân dân) của người nhận nuôi.

2. Cam kết về việc chăm sóc giáo dục đứa trẻ. Nếu có vợ hoặc chồng phải có chữ ký của cả vợ và chồng.

3. Giấy thỏa thuận về việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi của cha mẹ đẻ, người giám hộ, cơ sở y tế hoặc cơ sở nuôi dưỡng (có xác nhận UBND nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của cơ sở y tế) .

4. Giấy khai sinh của người nhận nuôi con nuôi và của người được nhận làm con nuôi (trường hợp trẻ em chưa được khai sinh, thì phải đăng ký khai sinh trước khi đăng ký nhận nuôi con nuôi)

5. Chứng minh nhân dân của người nhận nuôi con nuôi.

6. Hộ khẩu của người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi.

7. Nếu người được nhận làm con nuôi từ 9 tuổi trở lên, thì phải có sự đồng ý của người đó.

Thứ hai: . Nơi nộp hồ sơ:

Đăng ký tại UBND Phường nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

4. Cách đăng ký khai sinh cho con và vấn đề thừa kế?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một số vấn đề mong các luật sư giải đáp như sau:

1. Tôi đã kết hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn. Tôi muốn hỏi khi sinh con tôi muốn làm khai sinh cho con tại ủy ban nhân dân nơi bố cháu có hộ khẩu thì có được không? Tôi và chồng đều hộ khẩu Hà Nội. Và thủ tục như thế nào?

2. Về thừa kế bố mẹ chồng tôi có để lại 1 căn nhà cho 4 anh em. Nay muốn chuyển quyền sở hữu nhà cho chồng tôi và sổ đỏ vẫn tên bố mẹ tôi thì thủ tục như thế nào và chi phí bao nhiêu ạ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: V.Q.A

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Trong trường hợp này, dù 2 bạn đã sống chung nhưng chưa đăng kí kết hôn nên pháp luật vẫn chưa công nhận 2 bạn là vợ chồng. Do đó, con của bạn sinh ra sẽ là con ngoài giá thú.

Việc đăng ký khai sinh cho con sẽ được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người mẹ cư trú (nơi cư trú bao gồm nơi thường trú và nơi tạm trú). Nếu không xác định được nơi thường trú của người mẹ thì mới đăng ký khai sinh tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người cha. Căn cứ vào Nghị định 123/2015/NĐ-CP (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh”.

Như vậy, bạn chỉ có thể đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú của mình tại nơi cư trú của cha đứa bé sau khi làm thủ tục nhận cha cho con hoặc có giấy thỏa thuận đồng ý của 2 vợ chồng về việc làm khai sinh cho con ngoài giá thú theo họ cha

Về thủ tục đăng ký khai sinh cho con, tại Điều 16,Luật hộ tịch năm 2014 ngày 20 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch có quy định:

Điều 16. Thủ tục đăng ký khai sinh

1. Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.

2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân.

Công chức tư pháp - hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.

3. Chính phủ quy định chi tiết việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ, trẻ em sinh ra do mang thai hộ; việc xác định quê quán của trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ.

2. Đăng ký sang tên quyền sở hữu nhà ở cho chồng bạn

a) Cơ quan thực hiện: Cơ quan có thẩm quyền đăng ký nhà đất tại Hà Nội

b) Hồ sơ đăng ký sang tên:

- Hợp đồng tặng cho/mua bán nhà đã có công chứng (bản chính);

- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (bản chính);

- Chứng minh nhân dân, Hộ khẩu thường trú của bố mẹ chồng bạn và chồng bạn (bản sao có chứng thực);

- Giấy khai sinh của chồng bạn (để làm cơ sở miễn thuế thu nhập cá nhân).

c) Thủ tục:

- Sau khi nhận hồ sơ của chồng bạn, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, chuyển hồ sơ sang cơ quan thuế để tính thuế thu nhập cá nhân.

- Sau khi chồng bạn hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế hoặc có tờ khai miễn thuế (trong trường hợp được miễn thuế), cơ quan nhà đất sẽ làm thủ tục đăng ký sang tên chồng bạn trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc cấp Giấy chứng nhận mới mang chồng bạn.

d) Chi phí khi đăng ký sang tên quyền sở hữu nhà: Gồm thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ, phí cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

- Thuế thu nhập cá nhân từ việc tặng cho/mua bán nhà ở: việc tặng cho/mua bán nhà ở thuộc trường hợp chịu thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân và các văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, theo Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân thì việc tặng cho/mua bán giữa bố mẹ chồng bạn và chồng của bạn được miễn thuế.

- Lệ phí trước bạ: tính bằng 0,5 % nhân với giá trị tài sản mua bán/ tặng cho theo Nghị định số 45/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 của Chính phủ về lệ phí trước bạ.

- Phí: Ngoài thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ thì bạn còn phải nộp phí khi được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà. Mức phí do cơ quan có thẩm quyền cấp giấy quy định.

Sau khi hoàn thành các khoản chi phi phát sinh thì chồng bạn sẽ được cơ quan nhà đất trao giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng là khi nào ? Di chúc miệng có hiệu lực không ?

5. Quy định về quyền sử dụn đất là thừa kế?

Kính chào Công ty Luật Minh Khuê, tôi có vấn đề vướng mắc về Luật đất đai và thừa kế, kính mong Công ty Luật Minh Khuê giúp tôi giải quyết vấn đề: Chồng tôi có 1 chị cả và 1 anh trai, mỗi người đều đã có gia đình riêng. Vợ chồng tôi ở cùng với bố mẹ. Trước đây bố tôi có đi vay để cho vay lại với lãi suất cao (như người ta nói là tín dụng đen đấy), nhưng công việc làm ăn bị đổ bể.
Bố chồng tôi đã đem sổ đỏ đất nhà tôi đang ở nhờ em gái của ông (là bà Hai) để vay ngân hàng, số tiền gốc còn lại của sổ là 240 triệu, ngoài ra nợ nhà bà Hai nữa là 300 triệu, và rất nhiều khoản vay khác. Và bố tôi không có khả năng trả nợ. Vợ chồng tôi tính bàn bạc với nhà anh trai (anh Ngọc, chị Minh) để hai anh em cùng trả nợ cho bố, cũng là để lấy sổ đỏ về. Nhưng với tính cách của chị Minh, chúng tôi sợ rằng chị không chịu hợp tác để trả hết các khoản nợ để lấy sổ đỏ về. Bố mẹ tôi nói, nếu chị không chịu trả, thì vợ chồng tôi lấy được sổ đỏ về thì hưởng hết đất và không phải chia cho nhà anh Ngọc Minh. Vậy cho tôi hỏi: Pháp luật thừa kế có cho phép tôi làm vậy không? Trường hợp nào thì tôi sẽ được hưởng hết toàn bộ đất?
Nói thực thì tôi không muốn làm vậy, chỉ mong Công ty tư vấn giúp xem vợ chồng tôi có được thừa hưởng hết đất không, để ép nhà anh chị có trách nhiệm cùng gánh vác, chi trả nợ nần. Nếu không được thừa hưởng hết đất thì có được thừa hưởng phần nhiều hơn không, ngoài 240 triệu tiền gốc của sổ đỏ (phải trả qua nhà bà Hai - vì nhà bà Hai đứng ra vay ngân hàng), và nợ nhà bà hai 300 triệu, ngoài ra nợ người dân, nợ các ngân hàng khác, không liên quan đến sổ đỏ, vợ chông tôi đứng ra trả hết thì phần đất đai chia tách như thế nào, vợ chồng tôi có được hưởng nhiều hơn không hay vẫn phải chia đôi.
Rất mong nhận được tư vấn từ phía Công ty Tôi xin trân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Khi nào vợ chồng bạn được hưởng hết đất ?

- Theo quy định tại Điều 626 Bộ luật dân sự năm 2015:

Người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

- Theo quy định tại Điều 615 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 615. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.....

Như vậy, trong trường hợp này bố mẹ của vợ chồng bạn để lại di chúc có nêu rõ rằng: sẽ dành toàn bộ đất đai cho vợ chồng bạn nếu như vợ chồng bạn thực hiện việc trả hết nợ, và vợ chồng bạn phải có trách nhiệm thực hiện việc trả hết toàn bộ nợ.

Ngoài ra theo quy định tại Điều 457 và Điều 462 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 457. Hợp đồng tặng cho tài sản

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận.

Điều 462. Tặng cho tài sản có điều kiện

1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Lưu ý: Đối với hợp đồng tặng cho bất động sản, pháp luật có quy định như sau tại Điều 459 Bộ luật dân sự năm 2015:

1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Như vậy, vợ chồng bạn có thể được hết toàn bộ đất đai nếu như bố bạn làm hợp đồng tặng cho tài sản cho vợ chồng bạn, hợp đồng tặng cho ở đây có thể không yêu cầu nghĩa vụ kèm theo hoặc sẽ có điều kiện kèm theo quy định ở Điều 462 trên.

b, Nếu không được hưởng hết và vợ chồng bạn thực hiện hết nghĩa vụ trả nợ thì chia như thế nào?

- Theo quy định tại Điều 658 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 658. Thứ tự ưu tiên thanh toán

Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:

1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;

2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu;

3. Chi phí cho việc bảo quản di sản;

4. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;

5. Tiền công lao động;

6. Tiền bồi thường thiệt hại;

7. Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước;

8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân;

9. Tiền phạt;

10. Các chi phí khác.

Như vậy, trình tự chia tài sản trước tiên sẽ phải thanh toán các nghĩa vụ trước. Cụ thể vợ chồng bạn thực hiện việc trả nợ hết bao nhiêu thì sẽ lấy phần tài sản của bố để trả lại, sau đó mới được chia phần tài sản còn lại. Phần tài sản còn lại sẽ được chia như sau:

Nếu bố bạn để lại di chúc:

Việc phân chia di sản sẽ được chia như sau:

Điều 659. Phân chia di sản theo di chúc

1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu huỷ do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

3. Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.

Nếu không có di chúc, di sản sẽ được chia theo pháp luật (chia theo hàng thừa kế):

- Điều 651 Bộ luật dân sự quy định như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

...2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau....

- Điều 660 quy định như sau:

Điều 660. Phân chia di sản theo pháp luật

1. Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: L[email protected] để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất